Thứ hai, 18/01/16

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - Cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam


Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP- Trans Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), kết thúc đàm phán ngày 5/10/2015. Hiệp định này quy định các nguyên tắc và lĩnh vực cam kết trong thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, các vấn đề lao động, môi trường, mua sắm chỉnh phủ... Hiệp định TPP có mức độ tự do hoá rất cao về thương mại hàng hoá và dịch vụ. Về thương mại hàng hoá, thuế xuất nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực. Do quy mô của 4 thành viên tham gia TPP đều nhỏ nên chưa thu hút được sự quan tâm của các nước trong khu vực. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, việc tham gia TPP sẽ đem lại cả những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Bài viết này nhằm phân tích đánh giá cả cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia TPP.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, TPP được coi là một hiệp định của thế kỷ XXI vì độ lớn và tầm vóc ảnh hưởng của hiệp định này. Về phạm vi, so với các hiệp định thương mại như Hiệp định Thương mại song phương (BTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) và WTO, thì hiệp định TPP mở rộng hơn cả về thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và còn cả những vấn đề phi thương mại như môi trường, lao động, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, mua sắm của Chính phủ, trong đó thương mại hàng hoá giữ vị trí hàng đầu. Hiệp định được thiết kế theo hướng mở, tức là có thể kết nạp thành viên mới và bổ sung các vấn đề mới sau khi Hiệp định có hiệu lực. Mục tiêu của TPP là lấy việc phát triển của nội khối và của từng thành viên trên cơ sở mở rộng quan hệ giữa các nước trong khối, nâng cao sức cạnh tranh, minh bạch chính sách của các nước thành viên. TPP gồm 12 thành viên, chiếm tới 40% nền kinh tế toàn cầu, với quy mô gần 28.000 tỷ USD. Theo một nghiên cứu định lượng của Trung tâm Đông - Tây (East-West Center), thì tác động của TPP trong thời gian đầu là tương đối nhỏ, song đến năm 2025, TPP có thể đem lại gia tăng thu nhập cho nền kinh tế toàn cầu lên đến 104 tỷ USD.

Trong bối cảnh Vòng đàm phán Doha về thương mại toàn cầu bế tắc, các cuộc đàm phán diễn ra đều thất bại, TPP với quy mô, nội dung, mục tiêu hoạt động thực sự đã trở thành một triển vọng tươi sáng, hấp dẫn đối với nhiều nước. Với mỗi nước, TPP có thể đem lại những lợi ích khác nhau, nhưng nhìn chung đều chia sẻ những lợi ích như i) cùng xây dựng một khu vực tự do thương mại lớn, xuyên lục địa nhằm đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực; ii) cùng nắm bắt cơ hội khai thác chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; iii) mở rộng thêm thị trường hàng hoá và dịch vụ với các thành viên TPP hiện tại và tương lai; iv) tạo cơ hội thu hút đầu tư và mở rộng dịch vụ tài chính; v) tiếp cận thị trường với những thành viên TPP chưa có Hiệp định FTA song phương với nhau.

2.Cơ hội đối với Việt Nam khi tham gia TPP

Một là, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam

Châu Á - Thái Bình Dương hiện là khu vực thị trường thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và 80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Gia nhập TPP là cơ hội đối với một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Việc Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường lớn với mức thuế suất từ 0 - 5% sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh lớn và triển vọng sáng sủa cho nhiều ngành hàng, đặc biệt là dệt may, da giầy, thuỷ sản, gạo, hạt tiêu, điều, cao su, đồ gỗ. Các nhóm hàng này sẽ có cơ hội được xuất khẩu sang các nước TPP như Mỹ và Nhật Bản. Theo dự tính của Trung tâm Nghiên cứu Đông - Tây, nhờ tham gia TPP, đến năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 25,8%. Mức gia tăng này của Việt Nam cao hơn hẳn các quốc gia khác cùng tham gia TPP.

Ngoài ra, Việt Nam có cơ hội nhập khẩu hàng hoá chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn thay thế cho nguồn hàng trong nước, hàng hoá các nước có trình độ công nghệ thấp như từ ASEAN, Trung Quốc.

Hai là, góp phần cải thiện các biện pháp hạn chế nhập khẩu từ các đối tác thương mại. Tham gia TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội được tham vấn giữa Chính phủ với chính phủ các nước đối tác về các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp. Việt Nam cũng có thể có được cam kết của các thành viên không sử dụng hạn chế các biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp. Ngoài ra, Việt Nam có thể có cơ hội sử dụng các cam kết của TPP về hàng rào kỹ thuật và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) để tránh các tranh chấp.

Ba là, thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nội địa: Sức ép từ cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường nội địa sẽ là động lực để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản lý, điều hành, đổi mới công nghệ, khoa học - kỹ thuật... Việt Nam sẽ có vị thế cạnh tranh cao ở các ngành cần nhiều lao động và công nghiệp chế tạo khi mà lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc ở những ngành này đang giảm dần.

Khi TPP được ký kết và có hiệu lực, thị trường mua sắm công cũng được tự do hoá hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia thị trường mua sắm công ở các nước TPP. Đây sẽ là động lực để các doanh nghiệp Việt Nam củng cố sức mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Trong những nước TPP, Mỹ là thị trường mua sắm công lớn nhất với giá trị hơn 1.700 tỷ USD, đứng thứ hai là Nhật Bản (678,8 tỷ USD), và Australia là 136,9 tỷ USD.

Bảng 1: Gia tăng thu nhập và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với các quốc gia TPP và một số quốc gia khác trong khu vực vào năm 2025

 

STT

 
Quốc gia

 
% gia tăng GDP

 
% gia tăng kim ngạch xuất khẩu

1

Việt Nam

14,27

25,8

2

Malaysia

2,24

5

3

New Zealand

0,78

5,7 1

4

Hàn Quốc

0,73

7,7

5

Nhật Bản

0,58

4,9

6

Mexico

0,58

3,1

7

Brunei

0,48

1,8

8

Singapore

0,35

0,6

 9

Trung Quốc

-0,09

-0 5

Nguồn: http://www.eastwestcenter.org

Bốn là, về thu hút vốn và tăng trưởng kinh tế: Một trong những cơ hội lớn đối với Việt Nam khi chính thức tham gia TPP đó là thu hút nhiều hơn vốn FDI từ các nước đối tác TPP. Hiện nay, có khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, song tập trung vào một số nhà đầu tư lớn và cũng là thành viên tham gia TPP như Nhật Bản, Singapore, Mỹ,... Qua đó, Việt Nam có nhiều cơ hội lớn để tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho thu hút FDI đặc biệt vào các lĩnh vực dịch vụ mà hiện nay Việt Nam rất cần nâng cấp như bảo hiểm, tài chính, viễn thông, vận tải...

Theo nghiên cứu định lượng của Trung tâm Đông - Tây (Mỹ, năm 2011), GDP của Việt Nam dự kiến tăng lên 235 tỷ USD vào năm 2025, chủ yếu nhờ vào việc mở rộng thương mại, đầu tư thông qua TPP.

Năm là, từ góc độ quản lý nhà nước, sau WTO, TPP sẽ là "cú hích" đẩy mạnh cải cách về thế chế, hành chính mới, hiệu quả hơn cho Việt Nam. Thực tế 30 năm đổi mới và mở cửa cho thấy, việc mở cửa nền kinh tế thành công đã tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước về nhiều mặt nâng cao trình độ phát triển của Việt Nam.

Các quy định pháp luật, quy trình hành chính và cả cách thức quản lý sẽ minh bạch hơn, công bằng hơn, và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp và người dân, qua đó hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khi tham gia TPP, thị trường mua sắm công sẽ dần được mở. Đây là cơ hội để giải quyết những bất cập trong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch hiện nay. Tương tự, những yêu cầu về thực thi các tiêu chuẩn lao động, môi trường, tuy có thể gây khó khăn cho Việt Nam nhất là chi phí tổ chức thực hiện của Nhà nước và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, nhưng một cách sâu xa, việc đáp ứng những tiêu chuẩn đó sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam đưa ra những chính sách, khung pháp lý và chế tài đảm bảo việc bảo vệ môi trường nhất là từ các dự án đầu tư của các nước đối tác TPP và bảo vệ người lao động. Những thay đổi này, dù có thể không diễn ra trên diện rộng, cũng sẽ có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy cải cách đi vào chiều sâu và thực chất hơn.

Sáu là, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong nước. Hầu hết các nước tham gia TPP đều là những quốc gia phát triển, có trình độ khoa học công nghệ cao và nguồn vốn dồi dào như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Australia, New Zealand,...TPP tạo cơ hội để các nước này đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam, đặc biệt đối với một số lĩnh vực mà Việt Nam mong muốn thu hút như các ngành công nghệ cao, giúp nâng cao trình độ phát triển của Việt Nam trên lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, nâng cao khả năng Việt Nam tham gia ngày càng tốt hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực.

Bảy là, nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Việc Việt Nam tham gia TPP là một bước triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam tiếp tục khẳng định mình tại Đông Nam Á, tại các diễn đàn hợp tác đa phương của khu vực và toàn cầu như ASEAN, APEC; WTO và TPP. Nhờ đó, Việt Nam tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư và hợp tác giáo dục, khoa học - công nghệ với các thành viên TPP, đưa quan hệ trên những lĩnh vực này phát triển theo chiều rộng và chiều sâu, tạo thêm nguồn lực phát triển cho Việt Nam.

Tám là, cơ hội tạo thêm việc làm. Hiệp định TPP có thể tạo thêm việc làm mới cho các ngành xuất khẩu của Việt Nam. Ví dụ như theo Hiệp hội Da giầy Việt Nam, xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sang Mỹ sẽ chiếm 47% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước và tạo hơn 1 triệu việc làm mới, đạt 7,2 tỷ USD. Nếu Hiệp định TPP sớm được ký kết, mặt hàng này cũng được hưởng thuế suất bằng 0% thay vì 12% như hiện nay. Bên cạnh đó, Hiệp định còn đảm bảo tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng như: Việc giảm thuế xuất nhập khẩu từ các nước TPP sẽ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, cũng như là các doanh nghiệp. Hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất. Những quy định cao về chất lượng sản phẩm, thực hiện bảo vệ tác quyền, cũng như bản quyền công nghiệp,... giúp nâng cao dân trí và đảm bảo sự công bằng bình đẳng cho những người dân khi tham gia kinh doanh.

Một cách tổng thể, TPP đem đến một cơ hội "không thể bỏ lỡ" để Việt Nam có thể kết nối nền kinh tế của mình với Mỹ và các thành viên TPP khác. Tuy nhiên, TPP cũng sẽ đặt ra những thách thức gay gắt, những khó khăn đòi hỏi Việt Nam chủ động tính toán về lợi ích, chuẩn bị những phương án không chỉ cho đàm phán mà còn cho việc triển khai thực thi những cam kết đối với các nước TPP.

3. Thách thức đối với Việt Nam khi tham gia đầy đủ TPP

3.1. Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của nước ta còn thấp, chậm cải thiện kể cả 3 cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Ở cấp độ quốc gia nổi lên vấn đề hoàn thiện thể chế, đáp ứng các yêu cầu cao của hội nhập quốc tế nói chung và tham gia TPP nói riêng. Trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã nỗ lực dần dần hoàn thiện khung pháp lý, sửa đổi bổ sung, ban hành nhiều đạo luật mới, quan trọng như Luật Thương mại (năm 2005), Luật Doanh nghiệp (năm 2005), Luật Cạnh tranh (năm 2004), Luật Phá sản (năm 2014), Luật Luật sư (2006, sửa đổi năm 2012), Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2008), Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005), Luật đàm phán ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế (năm 2005)... Tuy nhiên, do sự khác biệt về thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử, và nhất là xuất phát điểm của nền kinh tế còn hạn chế, Việt Nam sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn để bảo vệ lợi ích của mình trong đàm phán. Và hơn nữa, khi TPP có hiệu lực, năng lực hệ thống pháp lý của Việt Nam cần phải được củng cố, tăng cường mạnh mẽ hơn.

Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng mềm như tri thức, nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Điều này sẽ khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam chịu thiệt thòi ngay trên sân nhà nếu không được cải thiện. Mặc dù Việt Nam đã có chủ trương trong 5 năm từ 2011 - 2015 cần có ba đột phá chiến lược là: Hoàn thiện thể chế kinh tế; phát triển nhanh nguồn nhân lực; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ (theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI) nhưng kết quả và tiến độ còn chưa được như mong muốn.

Ở cấp độ doanh nghiệp: về cơ bản, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tận dụng được cơ hội từ việc Việt Nam là thành viên của WTO để tổ chức nâng cao trình độ quản trị hiện đại, tham gia tích cực và vững vàng trên thị trường trong nước và quốc tế. Việc giảm thuế quan chắc chắn sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng những luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cạnh tranh. Hệ quả tất yếu là doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hoá của Việt Nam sẽ bị thu hẹp lại. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam chưa nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu không tự điều chỉnh và thích nghi kịp thời, các doanh nghiệp yếu kém sẽ bị đào thải khỏi thị trường Việt Nam. Việc tham gia TPP còn dẫn đến những thách thức lớn về cải cách doanh nghiệp nhà nước, hiện sản lượng của khu vực này chiếm phần lớn trong tỷ trọng GDP của Việt Nam. Các cam kết từ TPP có thể là sức ép quá lớn, khiến các doanh nghiệp nhà nước không kịp đổi mới, tái cấu trúc, và có thể dẫn đến tình trạng phá sản và thắt nghiệp tăng cao.

Ở cấp độ sản phẩm: Khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam thấp. Ngoài những sản phẩm có lợi thế tự nhiên, hầu hết các hàng hoá còn lại. sức cạnh tranh yếu bởi cả 3 yếu tố giá cả, phẩm chất và kiểu cách, mẫu mã. Nhiều hàng hoá còn có nguy cơ thất bại ngay trên thị trường nội địa.

3.2. Thách thức đối với lĩnh vực pháp lý, thể chế

Về mặt pháp lý, hệ thống các quy định của Việt Nam nhìn chung chưa phát triển bằng những hệ thống của các nước khác thành viên TPP. Do đó, việc đưa hệ thống quy định lên một mức tương xứng với các bên khác là rất thách thức. Thể chế kinh tế thị trường của Việt Nam cần được phát triển, hoàn thiện hơn. Các văn bản luật quy định chế tài xử phạt đối với các vi phạm về luật sở hữu trí tuệ, môi trường... cũng sẽ phải sớm được điều chỉnh, thực hiện nghiêm túc để đảm bảo thực thi cam kết của Việt Nam đối với các bên tham gia TPP.

Nền kinh tế Việt Nam được gắn kết chặt chẽ với Chính phủ sẽ phải đối mặt với những đòi hỏi của các nước TPP mở rộng hơn nữa cho đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực nhạy cảm, trọng yếu của Việt Nam như viễn thông, dịch vụ tài chính,... Thoả mãn những yêu cầu này cũng sẽ đặt ra những thách thức về kinh doanh và chính sách công. Hơn nữa, nếu không có biện pháp, chính sách kiểm soát, chọn lựa các dự án đầu tư nước ngoài, Việt Nam sẽ gặp phải những thách thức về ô nhiễm môi trường, khoa học - công nghệ, máy móc lạc hậu, thất thoát nguồn thu từ lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.

Việc tham gia TPP, thực hiện các cam kết sâu, rộng của hiệp định này đặt ra một sức ép rất lớn đối với việc kiện toàn khung khổ pháp luật và chỉ tiêu theo tiêu chuẩn quốc tế. Hiện tại ở Việt Nam vẫn tồn tại tình trạng phải sử dụng nhiều văn bản dưới luật để triển khai một luật. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm, mức độ phát triển của các ngành và cả nền kinh tế nói chung còn khác biệt lớn so với thông lệ quốc tế cả về chất lượng, phương thức tính toán (ví dụ như chỉ tiêu giảm nghèo vẫn tính theo chuẩn riêng của Việt Nam).

3.3. Thách thức đối với thương mại hàng hoá

Hàng nông sản, thuỷ hải sản sẽ gặp phải những hàng rào phi thuế quan như dư lượng hóa chất, bao bì, nhãn mác,... khi thâm nhập thị trường các nước thành viên TPP. Mặc dù đối với hàng nông sản, quy tắc xuất xứ không quá căng thẳng nhưng đối với những mặt hàng chủ lực như dệt may và da giầy xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp những khó khăn do phải đáp ứng quy định về chứng minh xuất xứ, ví dụ như ngành dệt may của Việt Nam là ngành xuất khẩu chủ lực nhưng 75% nguyên vật liệu phải nhập từ Trung Quốc, trong khi đó Trung Quốc không tham gia TPP.

3.4. Thách thức đối với nền tài chính ngân hàng

Khi TPP được ký kết, mặc dù có những giới hạn nhất định cho việc mở cửa thị trường ngân hàng, các điều kiện để tiếp cận thị trường trong lĩnh vực này sẽ dần được xoá bỏ. Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam sẽ tạo ra những thách thức to lớn đối với Việt Nam trong khi "sức khoẻ" của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn yếu kém, nợ xấu, năng lực quản lý thấp, quản trị rủi ro tại các ngân hàng trong nước còn nhiều bất cập...

3.5. Thách thức từ mở cửa thị trường mua sắm công

Các chuyên gia nhận định mua sắm công là một vấn đề rất phức tạp, và vẫn còn tương đối "đóng" trong tự do thương mại quốc tế. Trong WTO, Hiệp định về mua sắm công có sự tham gia của một số lượng rất hạn chế các nước do nhiều quốc gia vẫn giữ quan điểm thận trọng với vấn đề này. Những quy định về mua sắm công của WTO cũng tương đồng với hầu hết yêu cầu của TPP. Dự thảo chương đàm phán về mua sắm công của TPP yêu cầu các công ty hoạt động ở bất cứ quốc gia thành viên nào cũng được có cơ hội bình đẳng như những công ty trong nước tiếp cận các hợp đồng mua sắm chính phủ trên một ngưỡng nhất định.

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, việc mở cửa thị trường mua sắm công sẽ gây ra những tác động bất lợi do sự thâm nhập của các nhà thầu nước ngoài khiến các nhà thầu nội địa không cạnh tranh nổi trong khi khả năng tiếp cận và thắng thầu của các nhà thầu nội địa trên thị trường mua sắm công của các đối tác TPP là hầu như không có do hạn chế về năng lực cạnh tranh.

3.6. Thách thức đi với an sinh xã hội

Tương tự việc gia nhập WTO, việc Việt Nam tham gia Hiệp định TPP sẽ có thể tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong kinh tế Việt Nam, theo đó khoảng cách giàu nghèo gia tăng, môi trường lao động sẽ trở nên khắc nghiệt hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều tới an sinh, phúc lợi xã hội. Việt Nam là một nước có tới 70% dân số làm nông nghiệp, do đó sản xuất nông nghiệp là nguồn thu chủ đạo của người dân sống ở nông thôn. Khi TPP có hiệu lực, những điều khoản trực tiếp liên quan đến hàng nông sản như dư lượng kháng sinh, hoá chất, mẫu mã, quy cách sản phẩm... và cả những điều khoản tưởng như không liên quan đến nông nghiệp như lao động cũng có thể ảnh hưởng tới quy mô kinh tế hộ gia đình, làng nghề thủ công tại các vùng nông thôn của Việt Nam.

3.7. Thách thức đối với việc triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam

Việt Nam gia nhập TPP, một "sân chơi" chủ yếu chịu ảnh hưởng của Mỹ có thể là một phép thử đối với việc triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là đối với nước láng giềng lớn như Trung Quốc. Trong tính toán chiến lược của Mỹ tại khu vực, TPP sẽ là những viên gạch nền, hạt nhân cho việc mở rộng ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, nhằm đối trọng với ảnh hưởng ngày càng lên của Trung Quốc. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa đạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Việt Nam vừa tham gia WTO, APEC, AFTA, đàm phán đồng thời TPP và RCEP (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - hay là ASEAN+6). Trong bối cảnh đó, TPP sẽ có thể đặt ra những khó khăn thách thức khi Việt Nam tiếp tục triến khai chính sách đối ngoại, nhằm "cân bằng" quan hệ với các nước lớn.

4. Một số khuyến nghị đối với Việt Nam

Một là, đảm bảo thực hiện đúng những nguyên tắc, quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng về hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 4/2013) trong đàm phán TPP, kiên định lợi ích quốc gia dân tộc, phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn kết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vực trong nước.

Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Hai là, tăng cường nâng cao nhận thức, tuyên truyền về TPP tới các doanh nghiệp, người dân trong từng ngành, từng lĩnh vực để có thể ý thức rõ những cơ hội, thách thức để chuẩn bị khi TPP chính thức có hiệu lực. Trong những giải pháp ứng phó với các tác động tiêu cực của TPP, cần chú trọng những ngành chủ lực, dễ bị ảnh hưởng nhất, ví dụ như đối với dệt may, cần phải phát triển ngành công nghiệp phụ trợ để giảm nhập khẩu nguyên liệu từ nước khác; với ngành thuỷ sản cần nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường như Mỹ; đối với doanh nghiệp nhà nước cần có phương án hỗ trợ bảo hiểm, đào tạo nghề cho người lao động mất việc làm... Đối với lĩnh vực lao động, tiếp tục cải thiện pháp luật lao động, phù hợp với thực trạng và tình hình phát triển của Việt Nam, đồng thời tiến dần tới các tiêu chuẩn quốc tế về lao động.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các cam kết cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá. Việt Nam cần thực hiện mở cửa có giới hạn các giao dịch vốn, thẩm định kỹ lưỡng các dự án sử dụng vốn nước ngoài, giám sát chặt chẽ sự chu chuyển của các dòng vốn ngắn hạn và các giao dịch vốn trên thị trường chứng khoán. Cần thực hiện mở cửa từng bước thị trường vốn cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình hội nhập, đảm bảo dựa trên cam kết quốc tế và cần phù hợp với khả năng giám sát và quản lý nguồn vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là, khẩn trương kiện toàn hệ thống luật pháp. Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013, và xác định từ nay đến năm 2020, Quốc hội tiếp tục phải sửa 87 đạo luật nữa. Hơn nữa, trong quá trình tiến tới ký kết TPP những hiệp định quốc tế khác, Quốc hội Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò chủ động, tính đến xây dựng danh mục các đạo luật phải chỉnh sửa, bổ sung hoặc ban hành mới để phù hợp với những cam kết quốc tế.

Năm là, tăng cường nghiên cứu để đánh giá dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của TPP đối với nền kinh tế, các ngành, các sản phẩm quan trọng và các doanh nghiệp Việt Nam. Chính phủ, các cơ quan ban ngành hữu quan và đặc biệt là đoàn đàm phán cần tổ chức các cuộc trao đổi, tham vấn với các doanh nghiệp, chuyên gia; đồng thời cũng cung cấp những thông tin cần thiết về các yêu cầu, quy định trong đàm phán và cam kết với các nước tham gia TPP để các doanh nghiệp trong nước chuẩn bị tốt hơn cho sân chơi mới này.

Sáu là, về phía các doanh nghiệp Việt Nam, cần chủ động đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, xác lập các liên kết từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng và xuất khẩu, hình thành các chuỗi cung ứng để có thể tạo được chỗ đứng vững chắc trong các chuồi giá trị khu vực và toàn cầu. Các doanh nghiệp tiếp cận và cập nhật thông tin, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, chuẩn bị nguồn cung cấp để đảm bảo nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc hợp pháp và chất lượng tốt.

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế, đề nghị các nước, các tổ chức quốc tế hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam trong quá trình chuẩn bị và thực thi các cam kết khi hội nhập quốc tế nói chung và TPP nói riêng.

TPP là một FTA thế hệ mới với những triển vọng rất sáng sủa cho nền kinh tế các nước thành viên, trong đó có Việt Nam. Điều quan trọng là Việt Nam cần có quyết tâm, giải pháp và hành động đúng đắn, kịp thời để tận dụng những cơ hội tốt và vượt qua những thách thức mà Hiệp định mang lại. Cần phải xem thách thức cũng là một phần cơ hội, là yếu tố tích cực để Việt Nam phải tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực hơn nữa trong quá trình hội nhập.

Nguyễn Quốc Dũng

Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới số 10; 10/2015; Tr 27-34

 

Tài liệu tham khảo:

1. TPP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, http:www.//dsi.mpi.gov.vn/32/473.htlm.

2. Kỳ vọng cú hích TPP, http://www.sggp.org.vn/theodongthoisu/2013/7/324048/

3. TPP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, http://www.dsi.mpi.gov.vn/32/473.html

4. Về đàm phán mua sắm công trong TPP, https://www.citizen.org/documents/TPP-Buy- American.pdf

5. http://www.eastwestcenter.org/sites/default/files /private/econwpll9 2_pdf, trang 26.

6. Năm 2013, Quốc hội thông qua Luật Sửa đổi bổ sung điều 170 của Luật Doanh nghiệp liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, đang sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực và tạo môi trường kinh doanh đầu tư hấp dẫn hơn cho doanh nghiệp.

7. Hội thảo về Quốc hội với việc đàm phán, ký kết và thực hiện các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) (15/4/ 2014), phát biểu của đồng chí Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm ủy ban pháp luật của Quốc hội.

Số lượt đọc5904