Thứ sáu, 28/08/15

Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của ngành công nghiệp


Khoa học và công nghệ luôn được xác định giữ vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một nền công nghiệp phát triển luôn dựa trên một nền khoa học và công nghệ tiên tiến và ngược lại, công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho khoa học và công nghệ phát triển…
 
Khẳng định vai trò then chốt

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng và Nhà nước đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ (KHCN) đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với tiến trình phát triển ngành Công nghiệp nói riêng. Triển khai chủ trương trên, cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, tiềm lực KHCN đã được tăng cường, nhiều thành tựu KHCN được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, thông tin, xây dựng... Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được tiếp tục hoàn thiện; hoạt động xúc tiến hỗ trợ tìm kiếm, trao đổi, chuyển giao công nghệ được đẩy mạnh. Các quỹ phát triển KHCN quốc gia, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia được thành lập và hoạt động, phát huy hiệu quả. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thông tin KHCN có bước phát triển vượt bậc. Hoạt động kết nối cung cầu được tăng cường, bước đầu hình thành một số mô hình gắn kết giữa viện, trường với doanh nghiệp trong hoạt động KHCN.

Thực tiễn cho thấy, các kết quả nghiên cứu khoa học đã chú trọng giải quyết các yêu cầu của sản xuất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, phát triển nguồn nguyên liệu thay thế ngoại nhập, đổi mới, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, chế tạo các thiết bị, dây chuyền thiết bị phục vụ sản xuất. Nhiều công trình nghiên cứu KHCN đã được áp dụng thành công, góp phần đáp ứng nhu cầu trong nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội.
Cho đến nay, đối với hầu hết các sản phẩm cơ khí thuộc 8 chuyên ngành cơ khí xác định tại Chiến lược phát triển ngành đã được hỗ trợ nghiên cứu (tàu thủy, thủy điện, xi măng, thiết bị điện, nhiệt điện.. trình độ công nghệ của ngành Cơ khí đã được nâng lên rõ rệt, hầu hết các công nghệ tiên tiến trên thế giới về thiết kế, tạo phôi, gia công... đã được các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng. Điển hình như chúng ta đã làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện công suất lớn...

Tuy nhiên, nhìn chung chính sách huy động về đầu tư tài chính cho nghiên cứu KHCN trong công nghiệp hiện nay còn hạn chế, chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước. Việc huy động, khai thác tiềm lực của các đơn vị trong các bộ, ngành như: Các tập đoàn, tổng công ty, viện nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp còn hạn chế.

Việc định hướng, tập trung tiềm lực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề lớn, cấp thiết cho lĩnh vực công nghiệp còn dàn trải; các chính sách đặc thù, giải pháp mạnh mẽ để tạo đột phá trong những lĩnh vực công nghiệp mà Việt Nam có lợi thế cũng chưa rõ nét; các lĩnh vực KHCN mũi nhọn, đạt trình độ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh bình đẳng với khu vực và thế giới chưa được hình thành.

Hiệu quả hoạt động của các tổ chức KHCN chưa cao; số lượng thành lập doanh nghiệp KHCN còn rất hạn chế, nên kết quả ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao. Hơn nữa, cơ chế hỗ trợ tài chính trong sử dụng kinh phí từ nguồn sự nghiệp còn chưa khoa học, thiếu đồng bộ, mang nặng tính thủ tục hành chính, chưa thực sự gắn chi phí với kết quả cuối cùng, gây mất nhiều thời gian trong hoàn thành các thủ tục giải ngân.

Việc gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với chiến lược, kế hoạch phát triển các lĩnh vực, ngành với các nhiệm vụ nghiên cứu còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu đầu ngành trong một số lĩnh vực công nghiệp còn hạn chế, chưa khuyến khích được đội ngũ tri thức có trình độ cao ở nước ngoài tích cực tham gia nghiên cứu KHCN. Đặc biệt, chưa có chính sách hỗ trợ bảo đảm bù đắp rủi ro trong nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu, vì vậy đã phần nào hạn chế việc tham gia thử nghiệm ứng dụng của các doanh nghiệp công nghiệp.

Chính sách huy động về đầu tư tàỉ chính cho nghiên cứu KHCN trong công nghiệp hiện nay còn hạn chế, chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước. Việc huy động, khai thác tiềm lực của các đơn vị trong các bộ, ngành như: Các tập đoàn, tổng công ty, viện nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp hoạt động KHCN còn hạn chế.

Nguyên nhân chủ yếu là do phương thức đầu tư, cơ chế tài chính trong hoạt động KHCN chậm đổi mới, chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động KHCN, làm giảm năng lực sáng tạo, gây khó khăn và buộc các nhà khoa học phải tìm cách đối phó trong thủ tục thanh quyết toán thực hiện nhiệm vụ. Doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư cho KHCN, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Đặc biệt, cơ chế quản lý còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn trong việc huy động nguồn lực, vay vốn cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh.

Khơi nguồn lực khoa học công nghệ vào phát triển ngành Công nghiệp

Để hạn chế những tồn tại và thực hiện hiệu quả những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, giới chuyên gia cho rằng, cần thiết phải có định hướng rõ ràng về chính sách KHCN phục vụ phát triển ngành Công nghiệp. Cụ thể:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai và hoàn thiện thể chế để đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động KHCN theo Nghị quyết 20-NQ/ TW và Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Triển khai và thực hiện có hiệu quả các chính sách KHCN trong các văn bản pháp luật, Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam nói chung và Chiến lược phát triển KHCN trong công nghiệp nói riêng nhằm góp phần thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.

Thứ hai, xây dựng cơ chế, chính sách liên kết giữa lực lượng nghiên cứu và phát triển KHCN vói lực lượng, đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị đào tạo nhằm tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu với ứng dụng, nghiên cứu và đào tạo, đảm bảo các kết quả nghiên cứu được ứng dụng và phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh, gia tăng giá trị hàm lượng KHCN trong mọi hoạt động, sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; cần xây dựng và cụ thể hóa cơ chế quản lý hiệu quả trong việc gắn trách nhiệm của nhà nghiên cứu và doanh nghiệp công nghiệp trong việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp công nghiệp áp dụng các kết quả nghiên cứu trong nước.

Thứ ba, lựa chọn đầu tư chiều sâu có trọng tâm một số lĩnh vực quan trọng để đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu; gắn kết với các dự án đầu tư của các tập đoàn kinh tế nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa chủ lực của Việt Nam có sức cạnh tranh cao và mang lại hiệu quả kinh tế.

Thứ tư, xây dựng và ban hành chính sách đặc thù cho hoạt động nghiên cứu một số lĩnh vực công nghệ, sản phẩm mũi nhọn, trọng điểm trong ngành Công nghiệp... Đồng thời, tái cấu trúc ngành Công nghiệp theo hướng: Đưa công nghệ trực tiếp trở thành công cụ sản xuất, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ năm, chú trọng thực hiện chính sách đầu tư, nâng cao tiềm lực, năng lực nghiên cứu triển khai của các viện nghiên cứu, các tập đoàn, tổng công ty sản xuất các hàng hóa thuộc lĩnh vực ngành Công nghiệp trọng điểm để phát triển kết quả nghiên cứu thành quy mô bán công nghệ, khẳng định công nghệ trước khi phát triển ở quy mô công nghiệp.

Thứ sáu, tiếp tục ban hành các chính sách huy động tiềm lực của các tập đoàn, tổng công ty đầu tư cho hoạt động KHCN, đẩy nhanh việc xây dựng và thành lập quỹ phát triển KHCN của tập đoàn, tổng công ty và các doanh nghiệp theo quy định nhằm tận dụng các ưu đãi của Nhà nước đối với hoạt động KHCN và phát huy tính năng động, tự chủ của doanh nghiệp trong nghiên cứu phát triển và ứng dụng, đổi mới công nghệ nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.    

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2014; 

2. Bộ Công thương. Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Năm 2014...

Phạm Trung Hải

Số lượt đọc19318