Thứ năm, 24/08/17

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển khoa học - công nghệ


Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi bất cứ quốc gia nào cũng phải phát triển khoa học và công nghệ (KHCN) để đón đầu và tận dụng cơ hội từ xu hướng phát triển mới. Tuy nhiên, thực trạng phát triển KHCN ở nưởc ta còn chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của sự nghiệp đổi mới, mà nguyên nhân lớn xuất phát từ chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển KHCN chưa đạt kỳ vọng. Bài viết sẽ phân tích một số nội dung cơ bản của các chính sách khuyến khích, hỗ trợ sự tham gia của doanh nghiệp vào nghiên cứu KHCN, từ đó đề xuất giải pháp để doanh nghiệp nước nhà có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

NHỮNG CHÍNH SÁCH HIỆN HỮU

Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang ngày càng chú trọng đầu tư vào lĩnh vực KHCN. Ngân sách nhà nước (NSNN) vẫn là kênh đầu tư chính, chiếm 60%-70% tổng kinh phí cho KHCN. Giai đoạn 2006- 2013 ghi nhận sự gia tăng mạnh của chi ngân sách cho KHCN từ 5.429 tỷ đồng lên mức 13.869 ty đồng. Năm 2014, chỉ tiêu này giảm nhẹ và sau đó có sự tăng trở lại vào năm 2015, đạt mức xấp xỉ 17.390 tỷ đồng.

Với nhận thức rằng, KHCN là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ. Cụ thể:

Về ưu đãi đất đai:

Theo Nghị định số 119/1999/NĐ-CP, ngày 18/09/1999 của Chính phủ về chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KHCN, ngoài việc thực hiện chính sách ưu tiên về thuế, ưu đãi tiền thuê và thuế đất, Nhà nước áp dụng chính sách miễn, giảm từ 50%-100% tiền thuế sử dụng đất, lệ phí trước bạ sử dụng đất, tiền thuê đất đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động KHCN, doanh nghiệp KHCN, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Về hỗ trợ tín dụng:

Bên cạnh hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Nhà nước còn hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đổi mới KHCN do doanh nghiệp thực hiện hoặc phối hợp thực hiện với các tổ chức KHCN khác Doanh nghiệp đượctrích 50% lợi nhuận sau thuế do áp dụng KHCN mới trong vòng 3 năm để đầu tư trở lại cho KHCN. Khi sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học do Nhà nước đầu tư, doanh nghiệp chỉ phải trả cao nhất là 30% giá trị chuyển giao công nghệ (quy định tại Nghị định số 119/1999/NĐ- CP, Nghị định Số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/05/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KHCN...). Với sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệpthực hiện nghiên cứu khoa học đã tạo ramột số sản phẩm mới, gia tăng được năng lực sản xuất, tiết kiệm được chi phí do tạora được các sản phẩm công nghệ có giá thành rẻ hơn so với công nghệ nhập khẩu.

Về nâng cao năng lực cạnh tranh:

Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp cũng đã được xây dựng theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg, ngày 04/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về bảo hộ sở hữu trí tuệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Chương trình thực hiện các dự án liên quan đến tuyên truyền, phổ biến về sở hữu trí tuệ, xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu và áp dụng sáng chế. Như vậy, Chương trình này đã định hình đượcviệc sử dụng công cụ sở hữu trí tuệ để nâng cao giá trị, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp.

Xây dựng quỹ riêng tại doanh nghiệp:

Để hình thành Quỹ phát triển KHCN tại doanh nghiệp, doanh nghiệp được phép trích 3%-10% thu nhập trước thuế vào Quỹ này (Nghị định số 56/2009/NĐ- CP, ngày 30/06/2009 của Chính phủ).

Ưu đãi thuế:

Theo Nghị định số 119/1999/NĐ- CP, doanh nghiệp được giảm 50%, hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ nguồn thực hiện hợp đồng nghiên cứu KHCN, hợp đồng dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp vốn bằng sở hữu trí tuệ, bí quyết công nghệ. Đồng thời, được hưởng mức lãi suất tín dụng thấp nhất của Nhà nước khi đầu tư và thực hiện nghiên cứu, chuyển giao KHCN vào sản xuất.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn đượcmiễn thuế nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ nghiên cứu KHCN (Nghị định số 119/1999/NĐ-CP; Nghị định số 133/2008/NĐ-CP, ngày 31/12/2008 của Chính phủ hướng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ).

Đào tạo lao động:

Nhà nước cũng hỗ trợ 50%-100% kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn ngắn hạn đào tạo nghề trong nước cho người làm việc tại các doanh nghiệp (Nghị định số 120/2013/NĐ-CP, ngày 09/10/2013 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP). Nhà nước cũng ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí, đào tạo nhân lực, thuê chuyên gia, phát triển thị trường để các doanh nghiệp, chủ trì, tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu, dự án hoàn thiện công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí thuê chuyên gia tư vấn xây dựng giáo trình, mua tài liệu..., hỗ trợ 50% chi phí thuê chuyên gia nước ngoài giảng dạy, làm việc tại Việt Nam (Thông tư Liên tịch 49/2014/TTLT-BTC- BKHCN, ngày 23/04/2014 của Bộ Tàichính và Bộ KHCN hướng dẫn quản lý tài chính của Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ).

Ngoài ra, Chính phủ còn hỗ trợ 50%-70% chi phí quảng cáo, phát triển thị trường cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; hỗ trợ từ 50%-70% và 30%-50% chi phí tư vấn đầu tư, quản lý, phát triển thị trường, hỗ trợ pháp lý.

CHÍNH SÁCH CHƯA ĐỦ MẠNH

Mặc dù hành lang pháp lý cho phát triển KHCN khá đầy đủ, song vẫn không tránh khỏi tình trạng là vẫn còn những hạn chế, bất cập.

Một là, đầu tư từ NSNN cho KHCN còn thấp, chưa đủ liều lượng kích thích mạnh. Mức đầu tư với quy mô nhỏ bé của Việt Nam chưa tạo ra bước đột phá cho sự phát triển KHCN nói chung, cũng như trong việc đóng góp trực tiếp vào thực hiện mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện KHCN thế giới đang thay đổi rất nhanh chóng.

Tỷ lệ chi NSNN cho KHCN so với tổng chi NSNN đang có xu hướng giảm dần từ 1,85% năm 2006 xuống chỉ còn 1,36% năm 2014 và tăng trở lại mức 1,52% năm 2015 . Trong khi đó, tỷ lệ NSNN đầu tư cho KHCN so với GDP cũng rất khiêm tốn, ít biến động, dao động quanh mức 0,4%-0,5%. Đó là chưa kể đến tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả và thất thoát, lãng phí trong các dự án đầu tư KHCN.

Hai là, việc phân bổ nguồn kinh phí đầu tư từ NSNN cho KHCN còn thiếu hiệu quả, dàn trải. Trong tổng chi ngân sách hàng năm, hơn 40% được dành cho đầu tư phát triển, phân bổ cho các bộ, ngành, địa phương (chủ yếu là cho xây dựng cơ bản và hạ tầng KHCN); 40%-45% do các bộ, ngành, địa phương trực tiếp quản lý để chi thường xuyên và chi sự nghiệp cho bộ máy quản lý và nghiên cứu. Bộ KHCN chỉ điều hành trực tiếp khoảng 8%-ll%. Nguồn kinh phí phân bổ về địa phương cũng lại phải san sẻ cho nhiều mục đích sử dụng. Do vậy, tỷ lệ kinh phí dành cho các đề tài nghiên cứu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi ngân sách.

Ba là, kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ chưa đủ để kích thích phát triển KHCN. Bên cạnh đó, hỗ trợ theo Nghị định số 119/1999/NĐ- CP mới chỉ chú trọng những công trình được ưu tiên, khuyến khích, như: tạo ra các công nghệ mới, sản phẩm mới, tạo ra dây chuyền công nghệ đạt trình độ tiên tiến... Mục tiêu này khá xa với khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các quy định về hồ sơ xin hỗ trợ, thủ tục cấp, thanh toán kinh phí chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Cơ chế phân bổ vốn đầu tư từ NSNN cho KHCN cũng chưa thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tỷ lệ vốn nhà nước dành cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô lớn và DNNN. Về nguyên tắc, chính sách hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho doanh nghiệp của Bộ KHCN không có sự phân biệt giữa các loại hình doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, chính sách đầu tư cho KHCN về cơ bản vẫn duy trì tính bao cấp cho các cơ quan KHCN của Nhà nước và các DNNN lớn.

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRONG THỜI GIAN TỚI

Để nâng cao năng lực KHCN cho doanh nghiệp, Nhà nước cần tiếp tục có những chính sách hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn. Cụ thể:

Trong ngắn hạn, nhà nước cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ trực tiếp.

Nhìn chung, có nhiều hình thức khác nhau để Nhà nước hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp nghiên cứu KHCN, như: cung cấp kết quả nghiên cứu hoặc cung cấp điều kiện nghiên cứu để giải quyết vấn đề đặt ra; cung cấp kinh phí nghiên cứu hoặc phôi hợp nghiên cứu; hỗ trợ cho một doanh nghiệp đơn lẻ, hoặc hỗ trợ cho một nhóm doanh nghiệp về KHCN. Để các giải pháp hỗ trợ trực tiếp phát huy hiệu quả cần phải chú trọng đến lĩnh vực, đốì tượng được hỗ trợ và cơ chế hỗ trợ.

Trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, Nhà nước cần xác định lĩnh vực cụ thể cần tăng kinh phí hỗ trợ KHCN, sau đó thành lập một tổ chức hợp tác giữa các nhà sản xuất lớn trong lĩnh vực đó, các nhà cung ứng đầu vào trong lĩnh vực đó và các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành để nghiên cứu tạo ra công nghệ sản xuất mới.

Để thực hiện đượcgiải pháp này, cần xây dựng cơ chế rõ ràng và có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, các doanh nghiệp, viện nghiên cứu ngay từ khâu thông tin, kế hoạch ngân sách cho tới triển khai trên thực tế và phân chia lợi ích từ các kết quả nghiên cứu.

Nhà nước cần công khai và phổ biến thông tin rộng rãi cho các doanh nghiệp về nguồn vốn đượchỗ trợ, thủ tục được hưởng hỗ trợ để nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động KHCN. Đồng thời, Nhà nước cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ bằng cách thay đổi mô hình hỗ trợ doanh nghiệp từ hỗ trợ trực tiếp sang giao cho các hiệp hội ngành nghề làm đầu mối tiếp nhận nhu cầu nghiên cứu, phát triển, đổi mới và quản lý nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Trên cơ sở nguồn vốn đó, các hiệp hội và doanh nghiệp sẽ chủ động cùng nhau phối hợp nghiên cứu hoặc hợp tác nghiên cứu với các viện, cơ quan nghiên cứu. Nguồn vốn đầu tư cho các hiệp hội có thể khác nhau, nhưngchú trọng ưu tiên cho các doanh nghiệp, ngành nghề có công nghệ lạc hậu, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng, như: công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hoá. Để kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn vốn, Nhà nước cần ban hành các quy định về chế độ hỗ trợ nghiên cứu triển khai trên cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp nghiên cứu công nghệ và doanh nghiệp ứng dụng các nghiên cứu đó.

Nhà nước cần chọn lọc kỹ lưỡng đối tượng được hỗ trợ để khắc phục tình trạng thiếu hiệu quả và chưa công bằng trong sử dụng kinh phí KHCN của Nhà nước. Đối với việc hỗ trợ hoạt động R&D cần thiết cho sản xuất, kinh doanh, phải lựa chọn doanh nghiệp có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội ở địa phương và hoạt động R&D dự kiến tiến hành phải thực sự cấp thiết đối với đơn vị.

Trong dài hạn, Nhà nước cần giảm dần hình thức hỗ trợ bằng tiền trực tiếp, mà thay vào đó là hỗ trợ gián tiếp.

Thông qua các thể chế tài chính trung gian như các quỹ tài chính của Nhà nước hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm của tư nhân, Nhà nước có thể hỗ trợ gián tiếp doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động R&D. Đối với các quỹ có bản chất NSNN, như: Quỹ Phát triển KHCN quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia cần tập trung nguồn kinh phí để hỗ trợ các hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu đổi mới công nghệ có quy mô lớn, có tính liên ngành, sản phẩm tạo ra có tác động đến sự phát triển của các ngành hoặc lĩnh vực. Khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm của tư nhân, đặc biệt là từ nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào phát triển năng lực KHCN cho doanh nghiệp thông qua các ưu đãi về điều kiện hoạt động, thuế…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chính phủ (2014). Nghị định số 95/2014/NĐ-CP, ngày 17/10/2014 quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KHCN.

2. Chính phủ (1999).Nghị định số 119/1999/NĐ-CP, ngày 18/09/1999 về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KHCN.

3. Thủ tướng Chính phủ (2005).Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg, ngày 04/04/2005 nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về bảo hộ sở hữu trí tuệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2016). Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2015, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

                                                                                                    

                Nguồn: Kinh tế và Dự báo, số 22, tháng 8/2017, tr24-26.

Số lượt đọc44