Thứ ba, 22/08/17

Một số vấn đề về quỹ phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam hiện nay


Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ (KH&CN) của Việt Nam đã có những bước đổi mới, đặc biệt là chuyển từ cơ chế cấp phát tài chính để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN sang cơ chế quỹ. Tuy nhiên, cơ chế quỹ ở Việt Nam đang mới trong quá trình triển khai, vẫn còn những bất cập cần phải hoàn thiện.

QUỸ PHÁT TRIẾN KH&CN LÀ HƯỚNG ĐỔI MỚI

Quỹ phát triển KH&CN ra đời trên thế giới là tổ chức phi tín dụng, phi ngân hàng, không vụ lợi và thường có 3 hình thái tổ chức:

  1. Do cá nhân thành lập và cấp kinh phí cho quỹ hoạt động;

  2. Do cộng đồng khoa học thành lập theo cơ chế dân chủ (dạng hội) và hàng năm nhà nước ủy thác cho quỹ một khoản tiền để quỹ cấp kinh phí cho các hoạt động KH&CN (hình thức tự quản);

  3. Do nhà nước thành lập theo luật pháp dân sự và hằng năm, nhà nước dành một khoản kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN), hoặc một khoản kinh phí công ích cho quỹ hoạt động.

Đặc trưng lớn nhất của quỹ là tổ chức, bộ máy và phương thức hoạt động là đề cao tính tự quản, dân chủ và công khai. Điều này dựa trên quan điểm, mà các nước tiên tiến thừa nhận: “Cộng đồng khoa học là người biết tốt nhất về công việc khoa học cho nên cũng là người biết việc phân bổ kinh phí cho hoạt động KH&CN như thế nào là hợp lý - vì khoa học là một loại hoạt động về bản chất là rất tự do, sángtạo (chỉ có nhà khoa học mới thấu hiểu hoạt động này)” (Đặng Duỵ Thịnh, 2009).

Tại Điều 59 của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã quy định rõ, Nhà nước thành lập, khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập quỹ để huy động nguồn lực xã hội nhằm hỗ trợ, đầu tư cho hoạt động KH&CN. Điều 60, 61, 62, 63 của Luật nêu rõ các loại quỹ KH&CN sau: Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia; Quỹ phát triển KH&CN của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quỹ phát triển KH&CN của tổ chức, cá nhân; và các quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp.

Hệ thống các quỹ này được thiết lập trên quan điểm là không vì mục đích lợi nhuận trừ quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, về cơ bản, quỹ sẽ cấp 100% kinh phí cho các đề tài. Đối với hoạt động nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm, quỹ hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc dùng các công cụ tài chính gián tiếp, như: thuế, tín dụng để thúc đẩy hoạt động này của doanh nghiệp. Kinh phí cho quỹ lấy từ ngân sách dành cho KH&CN, do vậy các quỹ quan tâm đến các nhiệm vụ KH&CN thuộc phạm vi trách nhiệm của Nhà nước phải thực hiện; còn đối với các hoạt động KH&CN của doanh nghiệp, các quỹ chỉ hỗ trợ một phần, còn phần chính là phải do các doanh nghiệp tự đầutư thực hiện.Như vậy, quỹ phát triển KH&CN được hiểu là quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm tài trợ, cấp kinh phí, cho vay, bảo lãnh chovay vốn và hỗ trợ nâng cao năng lực KH&CN. Quỹ có những đặc điểm cơ bản sau:

  1. Là một định chế tài chính đặc biệt, khác với các định chế tài chính khác đó là tổ chức tài chính hoạt động phi lợi nhuận để tài trợ không hoàn lại, hoặc có hoàn lại, cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi nhằm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN. Theo đó, quỹ phát triển KH&CN không phải là tổ chức kinh doanh giống như như tổ chức tín dụng, hoạt động của quỹ cũng khác với hoạt động ngân hàng và hoạt động tín dụng, vì mục đích của quỹ, cũng như nội dung đầu tư của quỹ khác với đầu tư tín dụng.

  2. Đầu tư của quỹ phát triển KH&CN mang tính hỗ trợ trên cơ sở những điều kiện đã có của các tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ.

  3. Quỹ phát triển KH&CN tạo môi trường tự do, bình đẳng, dân chủ trong hoạt động sáng tạo của cộng đồng khoa học, giảm nguy cơ độc quyền trong hoạt động KH&CN thông qua việc tuyển chọn các đề tài nghiên cứu do chính các nhà khoa học tự đề xuất, với nguyên tắc đánh giá theo phương pháp tư vấn chuyên gia cùng ngành, từ đó chọn đề cương, đề tài nghiên cứu tốt nhất làm cơ sở để quỹ tài trợ.

  4. Đa dạng hóa nguồn vốn cho hoạt động KH&CN, ngoài phần vốn do NSNN cấp, quỹ còn được huy động nhiều nguồn vốn khác trong xã hội thông qua các chính sách khuyến khích của Nhà nước. Đây là một trong các biện pháp để xã hội hóa nguồn vốn cho hoạt động KH&CN, khắc phục tình trạng bao cấp đối với hoạt động KH&CN.

  5. Quỹ phát triển KH&CN có nguồn vốn đầu tư từ NSNN thực chất là quỹ tài chính công ngoài NSNN, vì thế có những đặc điểm như:

  • Chủ thể quyết định việc thành lập, tổ chức bộ máy quản lý, huy động nguồn vốn và sử dụng loại hình quỹ này là Nhà nước.

  • Về nguồn vốn hình thành quỹ bao gồm hai nguồn chủ yếu, đó là: một phần do NSNN cấp, một phần huy động từ các nguồn tài chính nhàn rỗi (của các tổ chức kinh tế - xã hội, dân cư) trong xã hội.

Trong đó, vốn từ NSNN chủ yếu đầu tư để hình thành vốn điều lệ cho quỹ, hàng năm NSNN sẽ đầu tư theo dự toán để bổ sung cho quỹ.

  • Cơ chế hoạt động linh hoạt hơn so với NSNN. Cơ chế sử dụng các quỹ này rất linh hoạt, đúng theo phương châm “Tiền nào dùng vào việc ấy” với những mục tiêu cụ thể của quỹ đã được xác định. Điều này tạo nên sự linh hoạt trong việc sử dụng quỹ để xử lý những tình huống biến động bất thường không được dự báo trước, đúng như mục tiêu tạo lập các quỹ này.

THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM

Hiện nay, ở Việt Nam, hoạt động KH&CN phần lớn được đầu tư từ NSNNvới mức kinh phí vào khoảng 1,3%- 1,85% tổng chi NSNN hàng năm. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đầu tư từ NSNN cho KH&CN năm 2015 đạt khoảng 17.390 tỷ đồng, bằng 1,52% tổng chi NSNN, tăng mạnh so với năm trước (Biểu đồ1).

Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ chi cho KH&CN trong chi NSNN đã tăng trở lại sau nhiều năm giảm liên tục từ 1,85% năm 2006 xuống 1,36% năm 2014. Năm 2015 tỷ lệ chi cho KH&CN tăng lên 1,52%. Tuy nhiên, mức tăng này không bền vững, sang năm 2016, tỷ lệ này lại giảm xuống 1,3%. Tính theo tỷ trọng đầutư cho KH&CN/GDP từ NSNN của Việt Nam giai đoạn 2006-2015 cũng giảm từ 51% xuống 0,41%.

Trước thực tiễn này, sự ra đời của các quỹ phát triển KH&CN, cụ thể với việc thành lập Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (Nafosted) năm 2003 theo Nghị định 122/2003/NĐ-CP, ngày 22/10/2003 (chính thức đi vào hoạt động từ năm 2008 và bắt đầu hoạt động tài trợ, hỗ trợ từ tháng 11/2009), đã đem lại những lợi ích, tác động tích cực trong lĩnh vực KH&CN. Đến nay, các tỉnh, bộ, ngành và doanh nghiệp đều thành lập quỹ phát triển KH&CN, nhất là sau khi Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 có hiệu lực. Có thể nói, trong thời gian qua, quỹ phát triển KH&CN có một số vai trò như sau:

Một là, các quỹ phát triển KH&CN đã tạo ra kênh tài chính đa dạng và năng động nhằm huy động thêm các nguồn lực tài chính trong xã hội, hỗ trợ NSNN trong thực hiện các mục tiêu phát triển KH&CN.

Các quỹ phát triển KH&CN còn trợ giúp Nhà nước trong việc khắc phục những hạn chế của cơ chế tài chính truyền thông cho hoạt động KH&CN và chuyển dần sang cơ chế tài chính mới cho hoạt động KH&CN phù hợp với cơ chế thị trường. Cơ chế hoạt động của các quỹ này lại linh hoạt, chủ động và có tính đan xen giữa cơ chế quản lý nhà nước thuần túy và cơ chế quản lý thị trường. Do đó, đây là sự bổ sung hữu hiệu cho các cơ chế, chính sách khác của Nhà nước trong quá trình chuyển đổi dần nền kinh tế xã hội sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Từ đó, tạo đà khắc phục sự nhiêu khê, nhũng nhiễu trong các thủ tục hành chính đối với việc quyết toán tài chính trong hoạt động KH&CN.

Hai là, các quỹ phát triển KH&CN từng bước khắc phục những tồn tại, bất cập trong đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN ởViệt Nam. Quỹ phát triển KH&CN được thành lập và đi vào hoạt động theo tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục cho nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, nhất là một số lĩnh vực khoa học đặc thù của Việt Nam. Hơn nữa, thông qua các quỹ này, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực KH&CN, chú trọng phát triển công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ có ý nghĩa quan trọng; đẩy mạnh ứng dụng kết quả hoạt động KH&CN.

Ba là, các quỹ đã khuyến khích các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, phổ biến, ứng dụng thành tựu KH&CN, tăng cường nhân lực KH&CN và chuyển giao công nghệ về cơ sở, chú trọng địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Điều này có thể thấy rõ trong hoạt động của Nafosted. Từ khi Nafosted đi vào hoạt động tài trợ (năm 2009 đến nay), đã nhiều đề tài nghiên cứu đã tiếp cận được với các chuẩn quốc tế, số lượng công bố quốc tế của các nghiên cứu do Quỹ tài trợ được tăng lên, chiếm khoảng 25% tổng số công bố quốc tế của Việt Nam, trong khi số lượng đề tài nghiên cứu chiếm 10% tổng số đề tài nghiên cứu của cả nước. Số hồ sơ đăng ký và tàitrợ các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học của Quỹ ngày càng nhiều.

Có thể nói, nhờ hoạt động của các quỹ phát triển KH&CN, số lượng các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí uy tín trên thế giới tiếp tục tăng hàng năm. So với 10 nước ASEAN, trong cả giai đoạn 2011-2016, số lượng công bố KH&CN của Việt Nam trong CSDL Web of Science giai đoạn 2011-2015 đứng ở vị trí thứ 4 chỉ thua Singapore, Thái Lan và Malaysia.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình hoạt động của quỹ phát triển KH&CN ở Việt Nam trong thời gian qua cũng đặt ra một số vấn đề cần phải nghiện cứu giải quyết, đó là:

Thứ nhất, các quỹ phát triển KH&CN Việt Nam vẫn đang vận hành theo cơ chế bán chủ động.Thực tế ở Việt Nam, Nafosted vẫn phải thông qua kế hoạch hoạt động trước Bộ Tài chính rồi mới được cấp kinh phí hoạt động. Và, nguồn kinh phí hoạt động này không được Bộ Tài chính cấp một lần ngay từ đầu năm mà được chia ra làm hai kỳ, cấp theo tiến độ thực hiện.

Với cơ chế này, cứ đến thời điểm gần hết kinh phí cấp cho các đề tài, Nafosted lại phải chờ đợi sự thẩm định của Bộ Tài chính. Trong thời gian đó, các đề tài khoa học sẽ chờ nguồn kinh phí một cách bị động, và điều này ít nhiều sẽ gây tác động tiêu cực tới chất lượng nghiên cứu. Bên cạnh đó, cơ chế này cũng khiến trong mỗi một năm, Nafosted phải nhiều lần nộp kế hoạch và báo cáo tiến độ thực hiện công việc cho những cơ quan quản lý không có nhiều am hiểu về những đặc thù của hoạt động khoa học, làm gia tăng lượng thủ tục hành chính không cần thiết. Vì thế, việc cấp tiền cho Nafosted ngay một lần sẽ tạo sự chủ động cho cơ quan này, rút gọn được quy trình gửi kế hoạch, báo cáo và chờ đợi sự thẩm định của Bộ Tài chính, bởi mọi hoạt động của Nafosted đã có Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm soát. Lượng tiền trong tài khoản của Nafosted khi chưa dùng tới vẫn sinh lãi và lãi đó sẽ được sử dụng cho các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học.

So với 10 nước ASEAN, trong cả giai đoạn 2011- 2015 số lượng công bố KH&CN của Việt Nam trong CSDL Web of Science giai đoạn 2011-2015 đứng ở yị trí thứ 4 chỉ thua Singapore, Thái Lan và Malaysia. Thực tế, các quỹ phát triển KH&CN ở các quốc gia phát triển (như ở NSF ở Mỹ hoặc FTC ở Bồ Đao Nha) đều thực hiện theo cơ chế chủ động, tự chủ. Cho nên, trong thời gian tới Chính phủ cần nghiên cứu để vận dụng cơ chế này đối với các quỹ phát triển KH&CN ở nước ta.Thứ hai, hiện nay ở Việt Nam việc cấp bổ sung cho các quỹ phát triển KH&CN được thực hiện theo năm tài chính, thực tế này đang gây khó khăn, cản trở cho việc thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn của các đề tài có quy mô lớn, ngoài ra cũng cản trở việc tăng số lượng các đề tài được tài trợ trong mộtnăm của các quỹ phát triển KH&CN ở Việt Nam hiện nay.

Theo kinh nghiệm nhiều nước phát triển trên thế giới, các quỹ phát triển KH&CN ở các quốc gia phát triển đều thực hiện theo cơ chế cấp ngân sách theo kế hoạch trung và dài hạn. Vì thế, Chính phủ cần chú ý đến cơ chế này có thể vận dụng ở Việt Nam trong thời gian tới.

Ngoài ra, Chính phủ cần phải đẩy mạnh cơ chế phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư nhân trong hoạt động các quỹ phát triển KH&CN. Thực tế, các quỹ phát triển KH&CN ở các quốc gia phát triển hoạt động theo cơ chế phối hợp, hợp tác giữa khu vực công với khu vực tư nhân, trong đó nguồn vốn NSNN là “vốn mồi” để quỹ được hình thành và hoạt động, sau đó sẽ thu hút các khoàn tài trợ của khu vực tư nhân để phát triển và mở rộng quỹ.

Bên cạnh đó, các quỹ phát triển KH&CN cần được đảm bảo cơ chế đặc thù cho việc hoạt động so với các quỹ tài chính ngoài NSNN khác; đặc biệt, trong cơ chế huy động vốn cho quỹ hoạt động, phát triển, mở rộng, nâng cao khả năng tài trợ cho các đề tài nghiên cứu có quy mô lớn và thời gian thực hiện dài hạn. Thực tế một số nước ở Bắc Mỹ hay EU đã xây dựng các được các quỹ phát triển KH&CN theo hướng này, bên cạnh các nguồn huy động được từ khu vực tư nhân, Nhà nước vẫn đầu tư một khoản lớn từ NSNN đều gia tăng quy mô tài chính cho quỹ nhằm đảm bảo đủ nguồn lực để tài trợ cho các dự án nghiên cứu quan trọng, lớn và có giá trị cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Quốc hội (2013). Luật Khoa học và Công nghệ, số 29/2013/QH13, ngày 18/06/2013.

  2. Nafosted (2017).Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng hoạt động năm 2017.

  3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2016). Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2015, Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

  4. Mai Hà (2003), Phác thảo Chiến lược Phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

  5. Đặng Duy Thịnh (2009).Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đổi mới (Công nghệ), Báo cáo đề tài câp bộ, Hà Nội

  6. Bộ Tài chính (2017). Báo cáo NSNN dành cho công dân, truy cập từ http://www.mof.gov. vn/webcenter/portal/btc/r/lvtc/slnsnn/bcnsnndccd?_afrLoop=8303286437259067#!%40%40% 3F_afrLoop%3D8303286437259067%26centerWidth%3D100%2525%261eftWidth%3D0%2525 %26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl- tate%3Dceyfibw0i_45

7.    Đăng Minh (2015). Hiệu quả sử dụng ngân sách cho KH&CN, truy cập từ http:// truyenthongkhoahoc.vn/vn/Hieu-qua-su-dung-ngan-sach-cho-KH-CN-cl035/Hieu-qua-su-dung- ngan-sach-cho-KH-CN-n7710

Nguồn: Kinh tế và Dự báo, số 22, tháng 8/2017, tr7-10.

Số lượt đọc66