Thứ tư, 16/08/17

Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0


Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay còn gọi là công nghiệp được dự đoán sẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức ở cả cấp độ quốc gia và doanh nghiệp tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp, để tiếp cận và khai thác thành công những cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, các doanh nghiệp cần hiểu đúng, đầy đủ về cuộc cách mạng này để từ đó xây dựng cho mình chiến lược phát triển lâu dài và bước đi cụ thể, vững chắc,...

1. Một số nét về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư manh nha hình thành vào đầu những năm 2010. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được tạo nên bởi sự giao thoa của các công nghệ tiên tiến như điện toán đám mây, công nghệ di động không dây (wifi), trí tuệ nhân tạo (robot), công nghệ tin học lượng tử, công nghệ nano... Các công nghệ này có tính liên ngành sâu rộng, nghĩa là thành tựu công nghệ của ngành này có thể áp dụng sâu rộng trong ngành khác và ngược lại. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụtheo yêu cầu cụ thể của khách hàng với chi phí phù hợp và xây dựng hệ thống sản xuất hàng loạt có khả năng linh hoạt điều chỉnh theo thay đổi của nhu cầu xã hội, tối ưu lợi ích cho các bên liên quan.

Ba công nghệ nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệplà dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet vạn vật. Dựa trên 3 công nghệ này, thế giới đang nghiên cứu và phát triển các công nghệ ứng dụng mới như công nghệ in 3D, máy móc tự động hóa và tích hợp con người - máy móc là những động lực chính thúc đẩy tăng năng suất công nghiệp.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam

Mặc dù cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ mới diễn ở giai đoạn đầu, nhưng có thể khẳng định rằng, những thành tựu đột phá mà nó mang là không thể phủ nhận. Đi theo đó là rất nhiều cơ hội cũng như những thách thức mà cuộc cách mạng này mang lại cho doanh nghiệp Việt Nam. ở châu Á, các nước, như: Ân Độ, Hàn Quốc đã tận dụng triệt để những cơ hội mà cuộc cách mạng công nghệ 3.0 đã từng mang lại. Ân Độ dẫn đầu về công nghệ thông tin và Hàn Quốc với thế mạnh về công nghệ bán dẫn so với các nước trong khu vực. Vậy các doanh nghiệp Việt Nam đang có những cơ hội và thách thức gì từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

2.1. Cơ hội

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ thúc đẩy nhanh quả trìnhđổi mới về công nghệ. Điều này xuất phát từ bản chất của cuộc cách mạng 4.0 đó là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh. Chính vì vậy, để thích ứng với đòi hỏi từ cuộc cách mạng này thì doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư trang thiết bị, công nghệ, máy móc, tự động hóa trong sản xuất theo hướng áp dụng công nghệ mới, như: công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh nhằm tối Ưu quy trình, phương thức sản xuất.

Cách mạng công nghiệp 4.0 giúp cấc doanh nghiệp có cơhội mở rộng thị trường; từ đó thúc đẩy doanh nghiệp pháttriển. Do doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sản phẩm, điều này sẽ dẫn đến một sự thay đổi to lớn từ phía cung hàng hóa thông qua việc tiết giảm chi phí và tăng năng suất lao động. Cùng với đó, chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, hậu cần và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, các chi phí thương mại được giảm bớt. Do đó, thị trường của doanh nghiệp sẽ được mở rộng.

Theo các nghiên cứu thị trường, thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với nhau trên toàn cầu có thể đạt 6.700 tỷ USD năm 2020, thương mại số dự báo tăng 15%/ năm trong giai đoạn 2015-2020.

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúpdoanh nghiệp tăng khả năng tham giavào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như khu vực.Thực tế cho thấy, việc các doanhnghiệp Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi do nguyên nhân chính là áp dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều nhân công nên chi phí sản xuất cao, khiến khả năng cạnh tranh của hàng hóa thấp. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến từ cuộc cách mạngsẽ làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể đón nhận những cơ hội khác từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, như tăng khả năng tiếp cận thông tin, dữ liệu; cung cấp sản phẩm dịch vụ qua biên giới dễ dàng với chi phí thấp...

2.2. Thách thức

Rào cản trong xây dựng chính sách. Hoạch định chính sách trước những tác động của cuộc cách mạng công nghiệplà thách thức phổ biến với hầu hết các quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam. Hai yếu tố quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần này là internet và công nghệ số cho phép tạo ra những giá trị số hóa, phương thức giao dịch chưa từng có trong lịch sử (chẳng hạn như quản lý như thế nào đối với tiền điện tử Bitcoin, dịch vụ vận chuyển Uber...).

Thực tế này cho thấy, chính sách và pháp luật đã không theo kịp với sự phát triển của công nghệ. Những tài sản “mới” xuất hiện giờ đây không thể được quản lý theo phương thức truyền thống mà cần có những chính sách và hành lang pháp lý mới. Nếu các khuôn khổ pháp lý không hoàn thiện và không thể bắt kịp với sự phát triển nhanh của công nghệ số nói riêng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung thì sẽ ảnh hưởng đến sự sáng tạo và phát triển của cộng đồng doanh nghiệp.

Đa số các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, sử dụng nhiều nhân công chất lượng thấp. Điều này sẽ khiến thị phần tại nhiều thị trường bị giảmnhất là các doanh nghiệp dệt may, da giày...

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đang chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp của Việt Nam, với nhiều hạn chế cơ bản như quy mô nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, mức vốn chỉ ở mức từ 04 đến 07 tỷ đồng/doanh nghiệp; trình độ khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp, chưa tham gia được vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu... Cùng với đó, 80% đến 90% máy móc sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam là nhập khẩu, gần 80% là những công nghệ cũ từ thập niên1980-1990; khoảng 75% số máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao, hiệu quả sản xuất thấp. Trong khi đó, với những đòi hỏi về nền tảng của công nghệ số, kết nối thông minh cùng những đổi thay hằng ngày về mặt công nghệ trong cuộc cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, buộc các doanh nghiệp phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong đầu tư và sản xuất, kinh doanh (Thái Linh, 2017).

Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 201 7 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (VECOM) tại các doanh nghiệp xuât - nhập khẩu cho thấy, năm 201 6 mới chỉ có 32% doanh nghiệp đã thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài qua kênh trực tuyến, 11% tham gia các sàn thương mại điện tử và 49% có website. Điều này rõ ràng là một hạn chế lớn đối với các doanh nghiệp khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra.

Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tạo ramột sự dịch chuyển lớn nguồn lực laođộng. Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong tương lai, trung bình 9% việc làm hiện nay có nguy cơ bị thay thế hoàn toàn bởi tự động hóa; khoảng 47% các công việc hiện tại ở Mỹ có thể sẽ biến mất vì tự động hóa; 30% việc làm sẽ trải qua quá trình trang bị lại, bao gồm các kỹ năng mới. Khi thời kỳ robot hóa và tự động hóa lên ngôi, hàng triệu người sẽ rơi vào cảnh thất nghiệp, đặc biệt là những nhân công trong ngành vận tải, kế toán, môi giới bất động sản hay bảo hiểm.

Bên cạnh đó, yêu cầu đối với chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề lớn nhất trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 do những thiếu hụt lớn về nguồn nhân lực trong thị trường kỹ thuật số. ước tính đến năm 2020, riêng khu vực châu Âu có thể thiếu khoảng 825.000 chuyên gia trong mảng lĩnh vực này.

Nhiều doanh nghiệp không hiểu bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ4, không thấy được liên quan của các xu thế công nghệ đến ngành, lĩnh vực của mình, không sẵn sàng năng lực để tiếp cận công nghệ, hệ thống hạ tầng, quy trình không sẵn sàng, không xoay chuyển được mô hình tổ chức kinh doanh đáp ứng được với xu thế công nghệ.

Theo một cuộc khảo sát về quan điểm với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội vừa thực hiện với 2.000 hội viên chính thức tại 19 chi hội, câu lạc bộ trực thuộc Hiệp hội cho thấy, có trên 85% đại diện doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát tại Hà Nội thể hiện sự quan tâm đến cuộc cách mạng này. Trong đó, 55% doanh nghiệp Việt Nam đánh giá cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam; 23% đánh giá tác động bình thường; 11 % đánh giá không tác động lắm và 10% đánh giá không tác động, 6% không biết.

Tuy nhiên, về chiến lược, có đến 79% doanh nghiệp được khảo sát trả lời rằng, họ chưa làm gì để đón sóng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; 55% doanh nghiệp cho biết đang tìm hiểu, nghiên cứu, 19% doanh nghiệp đã xây dựng kế hoạch, chỉ có 12% doanh nghiệp đang triển khai.

Đối với nhóm các doanh nghiệp không quan tâm đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, 67% doanh nghiệp cho hay, họ không thấy liên quan hay ảnh hưởng nhiều đến doanh nghiệp; 56% cho rằng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp không bị tác động nhiều; 76% cho rằng họ chưa hiểu lắm về bản chất cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, 54% nói rằng chưa có nhu cầu, chưa quan tâm.

3. Một số khuyến nghị

3.1. Đối với Nhà nước

- Nhà nước cần đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của hệ thống đổi mới quốc gia; xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân, doanh nghiệp; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và nỗ lực tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp - đó chính là những mong mỏi lớn nhất của đội ngũ doanh nhân hiện nay khi chuyển mình để hòa vào dòng chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đồng thời, có chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp để phát triển sản phẩm mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ phát triển, bảo vệ tài sản trí tuệ phát triển.

- Xây dựng và hỗ trợ nâng cao năng lực hội nhập đón nhận cách mạng công nghiệp 4.0 cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp khi đó có thể tham gia hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu và đóng vai trò dẫn dắt trong các chuỗi giá trị nội địa và các cụm công nghiệp.

- Đổi mới lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề theo hướng hội nhập quôc tế, tạo và bổ sung để phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp, có thể tiếp thu và làm chủ công nghệ làm nên cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

- Thiết lập hệ thống thông tin vớicơ sở dữ liệu luôn cập nhật đầy đủ và đảm bảo luôn được công bố công khai về chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước; về chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế; về tất cả các kế hoạch, chương trình, dự án hoạt động của Nhà nước (trừ những chương trình, dự án bí mật quốc gia); thông tin chỉ dẫn kinh doanh; về tín dụng, thị trường trong nước và xuất khẩu, sản phẩm công nghệ; thông tin về hoạt động, nghiên cứu trao đổi, tham khảo của các cơ quan, tổ chức về mọi mặt liênquan đến đời sống của doanh nghiệp, cũng như kinh nghiệm quốc tế.

- Tăng cường thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp về xu hướng tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Mới đây, Chính phủ đã yêu cầu các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan báo chí, bản thân các tập đoàn, tổng công ty phải làm tốt công tác truyền thông, tăng cường nhận thức để toàn xã hội và cộng đồng doanh nghiệp hiểu về thời cơ, thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0. Rõ ràng, cách mạng công nghiệp 4.0 không phải là việc của riêng Chính phủ mà là của toàn xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp bất cứ quy mô nào.

3.2. Đối với doanh nghiệp

- Nghiên cứu các công nghệ tiên tiến của Cách mạng công nghiệp 4.0 và ứng dụng chúng nhằm cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị. Trong tương lai, đổi mới về công nghệ sẽ tạo ra một phép màu cho dịch vụ cung ứng, cải thiện năng suất và hiệu suất về lâu dài. Các doanh nghiệp phải linh động điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu người tiêu dùng, tích hợp các công nghệ tiên tiến để giản tiện quy trình sản xuất, giảm thời gian giao hàng, rút ngắn vòng đời sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo khả năng quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh...

- Tối ưu hóa mô hình kinh doanh. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp cần phải phát triển các kỹ năng mới cho từng cá nhân cũng như cho tổ chức. Nếu chỉ tiếp cận vấn đề từ một phía sẽ dễ tạo ra các phản ứng tiêu cực trong hệ thống tổ chức. Ngược lại nếu tiếp cận từ hai phía sẽ có tác động tích cực tới người lao động.

Xây dựng chuỗi cung ứng thông minh. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra một mô hình chuỗi cung ứng mới gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng mới này sẽ tạo ra một cơ sở dữ liệu duy nhất, làm cho chuỗi cung ứng thông minh hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn ở mọi giai đoạn, từ khi phát sinh nhu cầu cho đến khi giao hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Ban Kinh tế Trung ương, 2016, Kỷ yếu hội thảo Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với phảt triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

  2. Bộ Công Thương, 201 7, Tài liệu Diễn đàn Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tổ chức ngày 11/4/2017.

  3. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Báo cáo tổng kết về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: một số đặc trưng, tác động và hàm ý chính sách đối với Việt Nam.

  4. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, 2017, Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2017.

  5. Thái Linh, 201 7, Giúp doanh nghiệp phắt huy lợi thế cách mạng công nghiệp 4.0.

  6. Klaus Schwab, 2016, The Fourth Industrial Revolution, VVorld Economic Forum.

Nguồn: Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội, số 140, tháng 8/2017, tr26-30.

Số lượt đọc76