Thứ sáu, 07/08/15

Thông tư 10/2009 của Bộ GD-ĐT ban hành Quy chế đào tạo tiến sĩ


Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT về Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ thay thế các quyết định trước đây về tuyển sinh và đào tạo sau đại học. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 22 tháng 6 năm 2009.

Cơ sở đào tạo sẽ quy định môn thi ngoại ngữ

Theo đó, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ là 3 năm tập trung liên tục; đối với người có bằng tốt nghiệp đại học là 4 năm tập trung liên tục. Trường hợp nghiên cứu sinh không theo học tập trung liên tục được và được cơ sở đào tạo chấp nhận thì chương trình đào tạo và nghiên cứu của nghiên cứu sinh phải bảo đảm có tổng thời gian học và nghiên cứu như trên, trong đó, có ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu.

Thời gian tuyển sinh, mỗi năm, tùy theo nhu cầu và chỉ tiêu tuyển sinh, cơ sở đào tạo tổ chức từ một đến hai kỳ tuyển nghiên cứu sinh vào tháng 2 và tháng 8 theo hình thức xét tuyển.

Quy chế quy định người dự tuyển phải có  đủ  trình  độ  ngoại  ngữ  để  tham  khảo  tài  liệu,  tham  gia  hoạt  động quốc tế về chuyên mônphục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án. Cụ thể, thủ trưởng cơ sở đào tạo quy định môn ngoại ngữ và trình độ ngoại ngữ của người dự tuyển trên cơ sở yêu cầu của chuyên ngành và chương trình đào tạo và khả năng đạt yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án.

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh phải viết báo cáo khoa học; viết ít nhất hai bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học có phản biện độc lập, theo danh mục tạp chí do đơn vị chuyên môn quy định. Đồng thời, nghiên cứu sinh phải dành thời gian tham gia vào các hoạt động chuyên môn, trợ giảng, nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên thực tập hoặc nghiên cứu khoa học tại  cơ  sở  đào  tạo  theo  sự  phân  công  của  đơn  vị chuyên môn.

Nghiên cứu sinh không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập,  không  được  liên  hệ  hoặc  gặp  gỡ  với  các  thành  viên  Hội  đồng  cấp  trường hoặc viện trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ  chức  bảo  vệ  luận  án  như  đưa  hồ  sơ  luận  án  đến  các  thành  viên  Hội  đồng; không  được  tiếp  xúc  để  lấy  các  bản  nhận  xét  luận  án  của  các  thành  viên  Hội đồng, các nhà khoa học, các tổ chức khoa học.

Luận án tiến sĩ: phải là công trình khoa học sáng tạo

Quy chế mới quy định luận án tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu khoa học độc đáo, sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu, có đóng góp về mặt lý luận, chứa đựng những tri thức hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải quyết sáng tạo các vấn đề đang đặt ra với một ngành khoa học hoặc thực tiễn xã hội. Luận án phải có những đóng góp mới về mặt học thuật, được trình bày bằng ngôn ngữ khoa học, vận dụng những lý luận cơ bản của ngành khoa học để phân tích, bình luận các luận điểm và kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó đặt ra vấn đề mới, giả thuyết mới có ý nghĩa  hoặc  các  giải  pháp  mới  để  giải  quyết  các  vấn  đề  đặt  ra  của  luận  án  và chứng  minh  được  bằng  những  tư  liệu  mới. Tác  giả  luận  án  phải  có  cam  đoan danh dự về công trình khoa học của mình.

Luận án tiến sĩ phải có trên 50% khối lượng luận án là trình bày các kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh.

Về việc bảo vệ luận án,nếu luận án không được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện thông qua thì nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án và đề nghị bảo vệ lần thứ hai muộn nhất trước 24 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; không tổ chức bảo vệ luận án lần thứ ba.
Số lượt đọc2929