Thứ sáu, 15/07/16

Tái cơ cấu chuỗi cung ứng Việt Nam


Yếu kém trong chuỗi cung ứng hàng công nghiệp chế biến và sản phẩm nông nghiệp đã cản trở Việt Nam giảm chi phí xuất khẩu để tạo giá trị gia tăng cần thiết. Hạn chế chủ yếu đối với hàng công nghiệp chế biến là phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu và khả năng hạn chế trong việc tìm nguồn nguyên liệu. Điều này đã ảnh hưởng xấu đến khả năng giảm thời gian chờ và mức độ đáp ứng linh hoạt trước các đòi hỏi của thị trường thế giới. Hạn chế đối với hàng nông sản là các quy định điều chỉnh sự phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô công nghiệp. Đặc biệt, việc các hợp đồng xuất khẩu gạo giữa Chính phủ-với-Chính phủ chiếm phần lớn giao dịch đã không khuyến khích sản xuất gạo với chất lượng cao và phân loại gạo theo phẩm cấp. Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, mặc dù là một nỗ lực lâu dài, nhưng sẽ giúp giải quyết phần lớn các hạn chế này. Tuy vậy, vấn đề tái cơ cấu hoặc phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm giảm chi phí và tăng giá trị gia tăng chưa được chú ý nhiều.

Hiệu quả chuỗi cung ứng có tác động lên chi phí xuất khẩu -- chuỗi cung ứng không hiệu quả sẽ kéo theo sự tăng đáng kể chi phí hàng xuất khẩu. Vì vậy, muốn tạo thuận lợi thương mại thì cần phải đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả. Mỗi công đoạn trong chuỗi cung ứng tạo ra những giá trị gia tăng khác nhau. Bởi vậy, vấn đề tái cơ cấu toàn bộ chuỗi cung ứng nhằm nâng cao giá trị gia tăng ở mức tối đa là lý do thứ hai để coi đây là một trụ cột trong tạo thuận lợi thương mại.

Một chiến lược quan trọng trong tái cơ cấu chuỗi cung ứng và tăng giá trị gia tăng là phát triển một ngành công nghiệp phụ trợ sống động. Việc phát triển một ngành công nghiệp phụ trợ sẽ giúp các nhà xuất khẩu giảm chi phí và thời gian mua vật tư tại chỗ, tăng độ tin cậy giao hàng, và đáp ứng linh hoạt hơn với yêu cầu của khách hàng quốc tế. Đây là những yếu tố chính nhằm tăng cường chuỗi cung ứng, đồng thời giúp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ, khiến cho đất nước trở thành điểm đến hấp dẫn đối với hoạt động gia công và là một phần khăng khít trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, việc tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm tỷ trọng nguyên vật liệu nhập khẩu dùng trong chế biến xuất khẩu cũng sẽ giảm được chênh lệch cán cân thương mại. Hơn nữa, công nghiệp phụ trợ chủ yếu có quy mô nhỏ nên sẽ đóng góp vào sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân phù hợp với trình độ hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước (SMEs).

Tuy vậy, hiện tại ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam còn manh mún và kém phát triển, là kết quả của một tầm nhìn không rõ ràng và khung pháp lý yếu. Công nghiệp phụ trợ đang trong giai đoạn phát triển ban đầu với trình độ công nghệ lạc hậu. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn khu vực này nhưng thiếu gắn kết với khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân. Các chính sách hiện nay, kể cả phát triển giao thông và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn manh mún và thiếu tầm nhìn về tăng cường năng lực cạnh tranh thương mại. Mặc dù phát triển công nghiệp phụ trợ sẽ mang lại lợi ích lớn nhưng nó cũng đòi hỏi một khoảng thời gian từ trung đến dài hạn. Trước mắt, cần xem xét hiệu quả những chuỗi cung ứng hiện có. Tuy chuỗi cung ứng đối với mỗi loại hàng xuất khẩu khác nhau, ở Việt Nam, các chuỗi cung ứng có thể tạm chia thành hai loại hàng xuất chính như sau -- hàng nông sản và hàng công nghiệp chế biến.

Các công ty sản xuất công nghệ thấp trong các ngành may mặc và giày dép có thể có một trong các loại hình sau: công ty sản xuất thiết bị gốc (OEM), công ty sản xuất thiết kế gốc (ODM) và công ty sản xuất có thương hiệu gốc (OBM). Tuy nhiên, OEM có thể là nhà máy cung cấp hàng cho chủ hàng nước ngoài, và có thể tham gia vào sản xuất đơn thuần gồm sản xuất và mua sắm hoặc sản xuất, mua sắm và tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu (xem Hình 9 đối với ngành công nghiệp may mặc). Các chuỗi cung ứng được xác định bởi trình từ các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng dịch chuyển lên xuống trong chuỗi sản xuất. Giá trị gia tăng được tạo ra dưới hình thức nâng cao giá trị của sản phẩm cuối cùng và dưới dạng tái cấu trúc chuỗi cung ứng để nắm thêm các hoạt động đầu vào và đầu cuối của chuỗi.

Ở Việt Nam, hầu hết các công ty trong ngành công nghiệp may mặc chỉ tham gia vào gia công sản xuất, với 60% trong số này là những nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài. Số còn lại là các nhà sản xuất theo hợp đồng có tham gia mua nguyên vật liệu và một số lượng nhỏ hơn tham gia vào sản xuất, mua nguyên vật liệu, và tìm nguồn cung ứng. Chỉ có 2% số doanh nghiệp trong ngành là công ty sản xuất thiết kế gốc (ODM). Do đó, có nhiều cơ hội tái cấu trúc chuỗi cung ứng trong ngành công nghiệp may để có thể nâng cao giá trị gia tăng. Cơ cấu của ngành công nghiệp da giày tương tự như ngành công nghiệp may được thể hiện trong Hình 9. Nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài chiếm 45% tổng số các nhà máy, trong khi đó các OEM địa phương chiếm 40%. Phần còn lại là ODM và OBM.

Tương tự như các sản phẩm may mặc, khoảng 60% nguyên liệu thô được nhập khẩu, chủ yếu từ các nước Châu Á. Giá trị gia tăng được tạo ra bằng cách tăng tỷ trọng giày dép có giá trị cao hơn -- ví dụ giày dép nam, nữ và giày thể thao với thành phần da -- đặc biệt là đối với doanh nghiệp trong nước. Nhưng điều này cũng đòi hỏi nâng cao hình ảnh của Việt Nam như là một nhà cung cấp giày dép chất lượng. Ngược lại, việc tăng sản xuất nguyên liệu thô trong nước và giảm thời gian giao hàng đối với cả đầu vào và đầu ra sẽ cho phép ngành công nghiệp này tạo thêm giá trị gia tăng từ các chuỗi cung ứng.

Ngành công nghiệp điện tử và thiết bị điện tại Việt Nam chuyên sản xuất linh kiện cho các sản phẩm điện tử phức tạp mà cuối cùng được lắp ráp ở các nước khác, chủ yếu là Trung Quốc. Cấu trúc này nhìn chung giống với các ngành công nghiệp khác mặc dù ở những cấp thấp hơn, OEM là các nhà sản xuất linh kiện theo hợp đồng (dịch vụ sản xuất điện tử EMS). Dưới các nhà sản xuất này là các nhà sản xuất vật liệu cơ bản sử dụng trong sản xuất linh kiện.

Ngành công nghiệp điện tử bị chi phối bởi các công ty nước ngoài, đặc biệt là các nhà sản xuất thương hiệu lớn như Canon và Panasonic chuyển đến Việt Nam để giảm chi phí sản xuất. Ban đầu, các công ty xuyên quốc gia nhập khẩu hầu hết các linh kiện cần thiết cho sản xuất, sau đó đã chuyển dần sang sử dụng nguồn các yếu tố đầu vào tại địa phương để đơn giản hóa hoạt động logistics đầu vào. Các thiết bị điện phục vụ phát điện do các công ty trong và ngoài nước sản xuất. Các công ty này hoạt động như các nhà sản xuất theo hợp đồng hoặc nhà sản xuất có thương hiệu.

Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển so với những nước khác trong khu vực như Malaysia; Thái Lan và Philippines; và trước đó nữa là Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Kinh nghiệm của các quốc gia này cho thấy, tìm nguồn cung cấp địa phương không chỉ là cơ hội tạo giá trị gia tăng mà còn để tiếp thu các công nghệ cần thiết trong sản xuất linh kiện. Làm việc với các công ty xuyên quốc gia sẽ khuyến khích quan hệ đối tác phát triển với triển vọng tiếp tục chuyển giao công nghệ. Khi các công ty này hấp thụ được công nghệ, họ sẽ dịch chuyển lên phần trên trong chuỗi giá trị, tạo cơ hội cho các công ty trong nước khác. Một ngành công nghiệp phụ trợ và gia công phát triển mạnh mẽ sẽ khuyến khích đầu tư nước ngoài từ các công ty quốc tế và tăng cường hiệu quả học hỏi. Để hấp thu công nghệ thành công, thách thức chính là cần có đủ nguồn nhân lực, cả về số lượng và chất lượng.

Các nghiên cứu tình huống cho thấy chuỗi cung ứng hàng công nghiệp chế biến đang đối mặt với những hạn chế sau đây: (i) phụ thuộc vào cấu trúc chuỗi cung ứng mà theo đó chỉ tạo được rất ít giá trị gia tăng; (ii) phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu, ảnh hưởng tiêu cực đến thời gian chờ và mức độ phản ứng linh hoạt với thay đổi trên thị trường thế giới; (iii) nguồn cung cấp nguyên vật liệu còn yếu; (iv) phụ thuộc vào trung gian (ví dụ đại lý bên mua và bên bán) trong cả hai khâu tìm nguồn cung và nhận biết tín hiệu thị trường; (v) các khu chế xuất tập trung gần các thành phố lớn có mật độ dân số cao và khó mở rộng, khó tiếp cận lao động trong khi muốn di chuyển đến địa điểm mới lại đòi hỏi phải có đất và đáp ứng các yêu cầu đặc biệt của công nghiệp nhẹ, kết nối tốt với cảng biển và nguồn lao động có tay nghề cao; và (vi) thiếu vốn lưu động.

Việt Nam đã đạt một số thành tựu quan trọng trong xuất khẩu nông sản, trong đó có việc trở thành một trong những quốc gia có thành tích xuất khẩu cà phê Robusta và cá da trơn lớn nhất thế giới. Việt Nam cũng là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng này dự tính sẽ giảm do đã chạm ngưỡng về đất đai và lao động. Vì vậy, tăng kim ngạch xuất khẩu trong tương lai sẽ phụ thuộc cả vào việc tăng khối lượng và tăng giá trị trên mỗi đơn vị. Chuỗi cung ứng giữ một vai trò quan trọng trong quá trình này.

Các hạn chế lớn trong chuỗi cung ứng nông sản gồm: (i) xuất khẩu gạo chủ yếu thực hiện theo hợp đồng giữa Chính phủ với Chính phủ dẫn đến sản xuất gạo chất lượng thấp và không đa dạng; (ii) trên 70% hộ nông dân canh tác trên diện tích dưới 0,5 ha và không áp dụng các biện pháp canh tác hiện đại; (iii) hạn chế pháp quy trong vấn đề phát triển sản xuất quy mô lớn; (iv) biến động giá theo mùa lớn đối với mọi hàng hóa; (v) qui định không hiệu quả về điều kiện y tế và vệ sinh trong vận chuyển sản phẩm từ nông trại đến thị trường (thủy sản); và (vi) thiếu vốn lưu động.

Chuỗi cung ứng hàng nông sản Việt Nam có một số đặc điểm riêng. Gạo là ví dụ minh họa tốt nhất. Gạo không chỉ là một hàng hóa thương mại mà còn là một loại hàng hóa có tính chính trị. Điều này một phần do những lo ngại liên quan đến an ninh lương thực, nhưng cũng một phần do sự giao thương giữa Chính phủ với Chính phủ (G2G). Mặc dù có hơn 200 doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu gạo, nhưng phần lớn các doanh nghiệp này xuất khẩu một sản lượng dưới 1,000 tấn mỗi năm. Các tổng công ty nhà nước chiếm 80% lượng gạo xuất khẩu trong năm 2009. Trong khi xuất khẩu gạo từ khu vực tư nhân ít nhiều được khuyến khích và việc đa dạng hóa sản phẩm cũng như xây dựng thương hiệu được hoan nghênh, cho đến nay, chính phủ có rất ít tín hiệu nhằm giảm vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong kinh doanh xuất khẩu gạo. Hiện tại lập luận về tính hiệu quả hoàn toàn không được tiếp nhận. Mặc dù vậy, với nguồn cung cấp phong phú và nhu cầu không tăng đột biến, an ninh lương thực không phải là vấn đề lớn. Gia tăng xuất khẩu gạo là một minh chứng cho điều này.

Chuỗi cung ứng gạo cho xuất khẩu có năm thành phần -- các trang trại, các nhà thu gom, xưởng xay xát địa phương, nhà máy xay xát lớn, và nhà xuất khẩu. Sự tham gia của các thành phần này trong chuỗi khác nhau tùy thuộc vào việc bán hàng là giữa Chính phủ với Chính phủ (G2G) hay giữa Tư nhân với Tư nhân (B2B). Ngoài ra, mặc dù được giao dịch với số lượng lớn, kinh doanh gạo vẫn còn là một hoạt động quy mô nhỏ. Buôn bán gạo còn manh mún do vốn lưu động thấp dẫn đến hạn chế quy mô giao dịch. Các chuỗi cung ứng cũng không được thiết kế để duy trì tính thống nhất của mặt hàng gạo mà lại tạo điều kiện cho việc pha trộn gạo chất lượng khác nhau một cách bừa bãi, nhất là trong các giao dịch cấp chính phủ. Các hộ nông dân quy mô nhỏ không được kết nối với các yêu cầu của thị trường nước ngoài, do đó có rất ít động lực để các hộ nông dân cải thiện chất lượng.

Cũng giống như mặt hàng gạo, chuỗi cung ứng cà phê bắt đầu từ trang trại, đến thương lái, chế biến, các công ty thương mại và phân phối quốc tế. Gần như tất cả mặt hàng xuất khẩu cho đến nay đều là cà phê Robusta, hầu hết là xử lý khô và xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân với phẩm cấp tương đối thấp. Giao dịch chủ yếu là với các công ty thương mại quốc tế. Hiện nay Nestle là hãng thống trị. Tuy nhiên, cũng có một số công ty cà phê hoạt động tích hợp trên toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản xuất tới bán cà phê thành phẩm.

Các vấn đề trong chuỗi này bao gồm quá trình chế biến đơn giản và xát vỏ sau thu hoạch sử dụng thiết bị trong nước. Việc sử dụng các thiết bị này đã dẫn đến một tỷ lệ hạt cà phê vỡ cao và nhiều tạp chất. Vốn lưu động cũng là một vấn đề đối với các nhà máy chế biến. Các nguồn tài trợ thương mại hiện tại chủ yếu là dành cho các nông trại lớn.

Muốn giải quyết vấn đề trên cần một chiến lược gồm 4 phần: (i) nâng cao chất lượng cây cà phê bằng việc trồng thêm giống Arabica; (ii) nâng cao chất lượng chế biến cà phê xanh; (iii) tăng lợi nhuận cho nông dân; và (iv) cải thiện hiệu suất các hành lang thương mại.

Ngành thuỷ sản Việt Nam có tính cạnh tranh cao bao gồm hàng ngàn nông dân nuôi trồng thuỷ sản, một số lượng lớn người thu mua, và số lớn ngư dân đánh bắt thuỷ sản trên biển.

Các nhà máy chế biến, trong đó có nhiều nhà máy do nhà nước sở hữu, có công suất dư thừa do khả năng cung cấp nguyên liệu của địa phương còn hạn chế. Chuỗi cung ứng bắt đầu từ các nguồn thủy sản (nuôi trồng hoặc đánh bắt), tiếp đến là thu gom, chế biến, và các nhà máy chế biến cũng thường là những nhà xuất khẩu cùng với nhiều khâu trung gian khác.

Một số doanh nghiệp chế biến là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hạn chế chủ yếu về hiệu quả của chuỗi cung ứng này là thiếu nguyên liệu sản xuất. Cần giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng các thỏa thuận hợp đồng nuôi trồng hoặc đánh bắt thủy sản để đảm bảo nguồn cung cấp và hợp đồng xuất khẩu thường xuyên thay vì các chuyến hàng nhỏ lẻ. Nuôi trồng theo hợp đồng cũng góp phần khuyến khích áp dụng tốt các thông lệ, và tăng cường giám sát chất lượng và vệ sinh trong suốt chuỗi cung ứng.

Nhìn chung, xét các sản phẩm nông thủy sản, ta thấy cần nêu ra một số vấn đề dường như đã không tuân thủ theo quy hoạch chiến lược của chính phủ.

  • Trong chuỗi cung ứng có rất ít hoạt động chế biến. Một vài nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó bao gồm: (i) các quy định hạn chế và chi phí/giao dịch liên quan đến thu dụng đất, (ii) qui mô nhỏ về sản xuất nguyên liệu thô, (iii) liên kết ngang còn hạn chế (ví dụ thông qua các hợp tác xã) và hạn chế mua nguyên liệu trực tiếp từ nông dân (hạn chế mua nguyên liệu với giá tốt), và (iv) các nông trường quốc doanh và xí nghiệp quốc doanh vẫn chế ngự thị trường (nhất là trong ngành hàng gạo, cao su, lâm nghiệp).

  • Liên quan đến các hạn chế này là vấn đề phát triển trang trại lớn và lợi thế kinh tế theo quy mô và vị thế đàm phán (ví dụ đối với gạo, cà phê và cao su). Quy mô nông hộ nhỏ đã làm cho sản xuất lúa kém hiệu quả. Cho đến nay thử nghiệm “cánh đồng mẫu lớn” đã gặt hái một vài thành công.

  • Xuất khẩu nông sản của Việt Nam có tỷ trọng chế biến rất nhỏ. Ví dụ, trên 90% xuất khẩu cà phê là dạng cà phê nhân được bán cho các công ty đa quốc gia như Nestle. Đây là lĩnh vực mà quan hệ hợp tác công tư có thể hỗ trợ tái cơ cấu chuỗi cung ứng nhằm tận dụng được lợi thế của Việt Nam.

  • Chất lượng là vấn đề quan trọng đối với gạo và cà phê. Cả hai đều đòi hỏi tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trong ngành thuỷ sản do chủ nghĩa bảo hộ trá hình kết hợp với yêu cầu về vệ sinh an toàn đã làm cho vấn đề tiếp cận thị trường trở nên ngày càng khó khăn. Chứng chỉ chất lượng Việt Nam hiện nay không được công nhận trên thị trường quốc tế, nhất là đối với hải sản. Cần phải thiết lập và thực thi tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn thế giới và coi đó là một bộ phận quan trọng trong việc tạo hình ảnh Việt Nam như là một nước sản xuất sản phẩm có chất lượng cao.

  • Trong tất cả các nghiên cứu điển hình, tài trợ thương mại, đặc biệt là hỗ trợ vốn lưu động cho các nhà chế biến và xuất khẩu luôn là một vấn đề, nhất là khi thiếu sự quan tâm của các tổ chức tài chính tư nhân. Đây là một lĩnh vực tiềm năng mà quan hệ hợp tác công tư sẽ mang lại nhiều ích lợi. Tương tự đối với việc xây dựng các công cụ tài chính nhằm giảm nhẹ tác động của biến động giá và điều kiện thời tiết.

Số lượt đọc451