Chủ nhật, 22/11/15

Các quy định trong hiệp định của WTO về sở hữu trí tuệ


Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức quốc tế xử lý các quy tắc thương mại quốc tế. Mục đích của WTO là thúc đẩy thương mại giữa các nước thông qua việc tạo ra các điều kiện cạnh tranh bình đẳng và hợp lý. Để đạt được điều đó, WTO khuyến khích các nước đàm phán nhằm giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào khác đối với thương mại và yêu cầu các nước áp dụng các quy tắc chung về thương mại hàng hóa và dịch vụ.

Một tập hợp các quy tắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (còn được gọi là ’’Hiệp định TRIPS“).

Hiệp định TRIPS có tính ràng buộc đối với tất cả thành viên WTO là một nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách về việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới và đưa chúng vào khuôn khổ các quy tắc chung của quốc tế, thường được gọi là ’’các chuẩn mực và tiêu chuẩn tối thiểu“ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Do Hiệp định TRIPS yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực và tiêu chuẩn này, nên các thành viên WTO có thể phải ban hành hoặc sửa đổi pháp luật, quy định và thủ tục của họ liên quan đến việc đăng ký, cấp, thụ hưởng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Khi xảy ra tranh chấp thương mại đối với các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các quy định của Hiệp định TRIPS, có thể áp dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO. Hiệp định TRIPS điều chỉnh năm lĩnh vực lớn là:

- Cách thức áp dụng các nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại quốc tế và của các điều ước quốc tế khác về sở hữu trí tuệ;

- Cách thức bảo hộ đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ;

- Cách thức các nước phải thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ trong lãnh thổ của mình;

- Cách thức giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ giữa các thành viên WTO; và

- Những quy định chuyển tiếp trong thời gian hệ thống mới được áp dụng.

Trong khi Hiệp định có thể là rất hữu ích đối với các doanh nghiệp hiểu được các nguyên tắc cơ bản của cuộc chơi về sở hữu trí tuệ ở cấp độ quốc tế nhằm kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì vấn đề lại nằm ở hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia hoặc khu vực quy định các thủ tục đăng ký, cấp, khai thác và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, ban đầu bạn nên quan tâm đến pháp luật quốc gia nước sở tại hoặc khu vực được áp dụng cho quốc gia hoặc các quốc gia mà bạn dự định xuất khẩu đến hoặc có quan hệ kinh doanh chiến lược với bạn.

Hiệp định TRIPS

Khi Hiệp định WTO có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, các nước phát triển có một năm để đàm bào rằng luật pháp và thực tiễn về sở hữu trí tuệ của họ tuân thủ các yêu cầu của Hiệp định TRIPS. Các nước đang phát triển và (theo một số điều kiện nhất định) các nền kinh tế chuyển đổi có năm năm (đến ngày 01/01/2000) và các nước chậm phát triển có 11 năm (đến ngày 01/01/2006) và đối với một số sản phẩm nhất định thì các nước chậm phát triển có thể được gia hạn thêm 10 năm (đến ngày 01/01/2016).

Ngoài ra, tại thời điểm Hiệp định TRIPS có hiệu lực (ngày 01/01/1995), một số nước đang phát triển chưa bảo hộ sáng chế đối với sản phẩm trong một số lĩnh vực nhất định, ví dụ, lĩnh vực dược phẩm và hóa chất. Trong trường hợp này, Hiệp định cho phép nước đó có một khoảng thời gian tối đa là 10 năm (đến 01/01/2005) để bảo hộ các sản phẩm đó. Tuy nhiên, việc nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm dược và hóa nông phải được chấp nhận ở các nước này từ khi bắt đầu thời hạn chuyển tiếp cho dù không nhất thiết phải cấp bằng độc quyền sáng chế trong thời hạn này. Do vậy, các công ty muốn đăng ký bảo hộ sáng chế cho các lĩnh vực công nghệ này tại các nước nêu trên có thể làm như vậy nhưng chưa được bảo hộ cho đến thời điểm muộn nhất là tháng 01 năm 2005.

Các nguyên tắc chính của Hiệp định TRIPS những tác động đến việc ra quyết định đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp ở nước ngoài

Giống như các hiệp định khác của WTO, nguyên tắc không phân biệt đối xử là một nội dung then chốt của Hiệp định TRIPS. Nguyên tắc này được thực hiện thông qua nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc đối xử quốc gia (nghĩa là theo thuật ngữ thương mại, một quốc gia phải dành cho công dân của các quốc gia khác sự đối xử giống như công dân của nước mình) là quan trọng vì nó bảo đảm rằng các doanh nghiệp muốn có được sự bảo hộ đối với quyền sở hữu trí tuệ của mình ở thị trường nước ngoài thì sẽ nhận được sự bảo hộ ở mức độ giống như sự bảo hộ dành cho công dân của nước đó (ví dụ, thời hạn và phạm vi bảo hộ).

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) (theo đó, sự đối xử công bằng phải được dành cho công dân của mọi đối tác thương mại trong WTO) cũng được quy định trong Hiệp định TRIPS nhằm bảo đảm rằng tại thị trường bất kỳ, mọi doanh nghiệp sẽ nhận được mức độ bảo hộ giống nhau đối với quyền sở hữu trí tuệ của họ. Vì vậy, nếu một quốc gia quy định một số thuận lợi nào đó cho doanh nghiệp của một thành viên WTO khác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, thì theo nguyên tắc MFN của Hiệp định TRIPS, quốc gia đó cũng phải quy định những thuận lợi giống như vậy cho doanh nghiệp của tất cả các thành viên WTO khác. Tuy nhiên, các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) là một ngoại lệ của nguyên tắc MFN này.

Hiệp định TRIPS quy định những vấn đề thường được gọi là ’’các chuẩn mực và tiêu chuẩn tối thiểu“ về bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có nghĩa là các thành viên có quyền tự do trong việc xác định các biện pháp phù hợp để triển khai các quy định của Hiệp định TRIPS trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thực tiễn của nước mình, và có thể quy định sự bảo hộ rộng cao so với các quy định của Hiệp định TRIPS. Ví dụ, Hiệp định TRIPS quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả là 50 năm kể từ năm tác giả của tác phẩm chết, trên thực tế, một số nước quy định thời hạn này là 70 năm.

Quy định về vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TRIPS

Theo Hiệp định TRIPS, chính phủ các nước thành viên WTO phải bảo đàm rằng quyền sở hữu trí tuệ phải được thực thi theo luật quốc gia và chế tài đối với các hành vi xâm phạm phải đủ mạnh để ngăn chặn chúng. Các thủ tục phải công bằng và hợp lý, cũng như không quá phức tạp và tốn kém. Các thủ tục đó không được kéo dài bất hợp lý hoặc chậm trễ vô thời hạn. Những người có liên quan có thể yêu cầu tòa án xem xét lại quyết định hành chính hoặc khiếu nại về phán quyết của tòa án cấp thấp hơn.

Hiệp định quy định chi tiết hơn về cách thức thực thi quyền sở hữu trí tuệ, kể cả các nguyên tắc để có được bằng chứng, các biện pháp tạm thời, lệnh của tòa án, đền bù thiệt hại và các chế tài khác. Hiệp định quy định rằng trong một số điều kiện nhất định, tòa án có quyền ra lệnh tiêu hủy hàng giả và hàng xâm phạm bản quyền. Việc cố tình làm giả nhãn hiệu hoặc xâm phạm quyền tác giả ở quy mô thương mại phải bị xử lý hình sự. Chính phủ các nước thành viên phải bảo đảm rằng chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể nhận được sự hỗ trợ của cơ quan hải quan trong việc ngăn ngừa việc nhập khẩu hàng giả hoặc hàng xâm phạm bản quyền.

Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO vận dụng cho doanh nghiệp

Các thành viên WTO đã nhất trí rằng nếu họ cho rằng các thành viên vi phạm các quy tắc thương mại do WTO quy định, kể cà Hiệp định TRIPS thì hệ thống giải quyết tranh chấp đa phương phải được áp dụng trước khi thực hiện các hành động đơn phương. Nguyên tắc này có nghĩa là các thành viên phải tuân thủ các thủ tục đã được nhất trí và tôn trọng phán quyết.

Thông thường là tranh chấp phát sinh khi một nước thành viên áp dụng một biện pháp chính sách thương mại hoặc thực hiện hay không thực hiện một số hành động mà một hoặc một số thành viên WTO cho rằng đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc không thực hiện nghĩa vụ của thành viên. Một nhóm các nước khác có thể tuyên bố rằng họ quan tâm đến trường hợp này và được hưởng một số quyền.

Hiệp định WTO đưa ra một quy trình giải quyết tranh chấp quy định rõ ràng thủ tục theo từng giai đoạn. Hiệp định quy định thời hạn để giải quyết một vụ việc, với các thời hạn linh hoạt tương ứng với thủ tục ở từng giai đoạn khác nhau. Hiệp định nhấn mạnh rằng việc giải quyết nhanh chóng là cần thiết nếu WTO hoạt động có hiệu quả. Hiệp định quy định chi tiết về các thủ tục và thời gian biểu áp dụng trong giải quyết tranh chấp.

Các công ty gặp phải các vấn đề ở thị trường nước ngoài mà cho rằng nguyên nhân là do lỗi của quốc gia sở tại vì không tuân thủ các nghĩa vụ theo Hiệp định TRIPS có thể thông báo cho chính phủ của nước mình - là người có thẩm quyền đệ trình vụ việc giải quyết tranh chấp ở WTO. Đây có thể là một thủ tục phức tạp vì cần đến hành động của chính phủ (cá nhân hoặc doanh nghiệp không được phép đệ trình vụ việc giải quyết tranh chấp ra WTO). Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp đưa ra một khuôn khổ chung để đảm bảo rằng các nước phải thực thi nghĩa vụ của họ theo quy định tại Hiệp định TRIPS./.

Số lượt đọc1815